VƯƠNG CƯỜNG  

 

1.    Thơ trước hết là tiếng lòng của cá nhân.  Nhưng không một tác giả nào lại chỉ muốn khép lòng như thế.  Không có con chim nào lại không tha thiết với trời xanh.  Vì vậy tôi muốn nói với những ai muốn thơ mình có thể là tiếng nói của nhiều người,   thậm chí là của dân tộc mình.  Vẻ đẹp của thơ trong trường hợp này là vẻ đẹp mang đầy đủ phẩm hạnh của một dân tộc.

 

       Từ những năm đầu thế kỷ XX, nhà thơ, biểu tượng của vẻ đẹp tâm hồn,  tài năng, được nhiều người ngưỡng mộ, thờ phụng, mơ tới. Đa số người vợ các nhà thơ trước 1945 là con nhà gia giáo, giàu có và học thức. Sau này, một số nhà thơ rơi vào hoàn cảnh éo le, một tay các bà xoay chuyển hết, khó khăn gian khổ là thế, mà không một lời kêu ca. Tôi luôn luôn thấy bên các tượng đài về thơ có thấp thoáng tượng đài những người vợ ấy. Nhiều nhà thơ thấy mình vô tích sự, trong đời thường. Tú Xương chẳng đã ca ngợi vợ mình: nuôi cả năm con với một chồng, đó sao?

 

         Bây giờ nhiều cô tìm người yêu thì trước hết tránh xa những chàng mơ mộng, thơ thẩn! Cuộc sống hiện đại cần nhiều thứ khác hơn, nhiều thú vui hơn, thời gian ngày càng hạn hẹp. Thật may, đó chỉ là một số người, tức thời.

 

        Nhưng chúng ta sẽ bỏ qua những chuyện tương tự để nói về những người không may trời bắt làm thơ! Con người muốn sống, họ phải lao động. Do đó, có hai mối quan hệ: Tự nhiên và xã hội. Thơ ra đời chính là sự kết hợp giữa tâm hồn người mẹ – nhà thơ với người bố – cuộc đời. Con người vẫn cần thông cảm, sẻ chia, cần một chỗ dựa tinh thần. Thơ có mặt, nhà thơ trời bắt và tự nguyện, có mặt.

       

Trên con đường, một mình nhà thơ, cô đơn, hun hút tận cùng,  không ai chia sẻ hay gánh đỡ được. Nhà thơ là cái túi chứa đựng nỗi đau nhiều hơn niềm vui, họ gánh hết nỗi buồn đau và trở lại với con người. Con người bào chế nối buồn thành niềm vui cho mình. Có lẽ đó là hình ảnh cao đẹp nhất của nhà thơ.

 

          Không biết có phải vì thế mà hơn ai hết thơ được rất nhiều người quan tâm, đón đợi. Nhà thơ cũng muốn chia sẻ với nhiều người. Vô hình trung, nhà thơ đã có lúc làm dâu trăm họ.

      

Nhưng, Cuộc sống chẳng bao giờ chán nản, nói như Xuân Diệu, hay cây đời mãi mãi xanh tươi, nói như Gơtơ. Đời sống ngấm vào nhà thơ, qua các giác quan, qua sự trải nghiệm, họ chắt lọc cái mới, cái đẹp, cái lạ. Những vẻ đẹp của riêng mình. Vẻ đẹp đó có chia sẻ được với ai không, những cái đẹp, cái lạ, cái mới không ở trên trời rơi xuống, sinh sống cùng ta, chỉ có nhà thơ mới nhìn thấy. Ai không thấy lá vàng? Ai không biết mùa thu? Ai không đã từng nhìn thấy hoặc đang đau khổ? Thế mà chỉ một Nguyễn Thị ánh Huỳnh biết kết hợp lại tất cả các yếu tố đó trong một câu thơ đầy ám ảnh: Thương lá vàng làm con ở mùa thu. Chỉ tám chữ thôi, sự ám ảnh không nằm ở riêng bất kỳ chữ nào, các chữ ánh lên cộng hưởng, chói sáng. Nguyên liệu của thơ chính là cuộc sống buồn, vui trong tương tác với thời đại, tác động vào tình cảm con người làm nó biển đổi. Đó là nhưng chi tiết đời sống được phủ lên một lớp voan lấp lánh, trung thực, chọn lọc, đủ sức lôi kéo, hướng mọi người đến với cái đẹp. Người đọc biết gỡ tấm voan ấy, phía trong là toàn tình cảm buồn, vui của con người do chính cuộc sống nguyên chất mang lại. Thơ như một loại tân dược mà khi được sử dụng, tâm hồn người ta sẽ đẹp hơn, tình người lấp lánh hơn,  hướng về cái thiện. Cuộc sống không cần tô hồng cũng không được bôi đen. Cuộc sống vốn rất đẹp, đẹp trong những cặp mắt biết nhìn (Phạm Văn Đồng).

    

    Trên con đường lặng lẽ một mình nhà thơ sáng tạo muôn ngàn vẻ đẹp. Vẻ đẹp đó được sinh ra từ nỗi cô đơn đến tận cùng của nhà thơ. Các nhà thơ là những người có công xây dựng nên quê hương của thơ, nằm cheo leo trên giọt nước mắt và nụ cười. Nhưng nụ cười hơn hớn bị đuổi khỏi làng thơ. Chỉ có những giọt nước mắt đớn đau thì thơ mới cần có mặt. Xẻ thịt da mà khóc bụi trần tình (Huỳnh Thúy Kiều). Thơ sinh ra từ nỗi đau, xoa dịu nỗi đau, làm lành các vết sẹo. 

     

  Đến lượt nhà thơ, khi có người chia sẻ nỗi cô đơn, nhà thơ thật sự thấy hạnh phúc. Nhà thơ không thể giấu mình được qua trang viết. Nó là bản sao của các nhà thơ. Người đọc biết được tâm tư, tình cảm, cả con người nhà thơ và nhân cách của anh ta, thời đại và dân tộc anh ta sống. Nhà thơ nào sống đẹp dễ bắt gặp cái mới, cái lạ và cái đẹp hơn. Đó là lý do buộc các nhà thơ phải tu dưỡng, đạo đức, thu nạp kiến thức và các phẩm chất khác kỳ công hơn người thường để luôn luôn đứng ở hàng đầu.

      

Sứ mệnh cao cả, đường đi gian khổ, khó khăn, nhà thơ dễ mềm lòng, quá nhạy cảm. Nhà thơ Xuân Quỳnh có lần viết thư cho bạn: Người ta chưa vui thì mình đã cười, người ta chưa buồn thì mình đã khóc. Hình như đó là cả một gia tài của nhà thơ? Trực giác của nhà thơ thường mạnh hơn người bình thường, nhưng không phải nhà thơ nào cũng có tâm hồn đủ cứng rắn. Nhà thơ giàu tình cảm, vừa rất cần thiết, vừa bất lợi. Tôi nói thế bởi vì tình yêu duy nhất đẹp mới có thể là tình yêu lớn. Đó là tình yêu con người và thiên nhiên bỏng cháy. Tình yêu lớn là cơ sở để có nhà thơ lớn. Đã qua rồi cái thời có nhà thơ sống buông thả, lập dị, “nghệ sỹ” được thêu dệt lên thành giai thoại. Xã hội ngày càng công nghiệp hóa, công chúng và nhà thơ là con đẻ của xã hội ấy. Gặp ai cũng có thể yêu, yêu dễ dãi, yêu thiếu trách nhiệm, dễ biến nhà thơ tầm thường trong tình cảm thì bài thơ hay nhất rất ít khả năng xuất hiện. Nhà thơ nào biết tôn trọng tình yêu như là duy nhất để tôn thờ thì thường có khả năng đi xa hơn. Thơ mềm mại mà cần ý chí nhiều lắm. Nhà thơ giống như diễn viên xiếc, vừa mềm dẻo vừa mạnh mẽ. Thơ đòi hỏi ở nhà thơ những phẩm chất đặc biệt. Tâm hồn nhà thơ tuy mong manh, dễ vỡ nhưng không vỡ bao giờ! Vả lại, những con suối ồn ào thường rất ít có khả năng ra đến biển.

 

2. Có nhiều con đường đi tìm vẻ đẹp, mỗi nhà thơ đi tìm theo cách của mình. Cha ông ta đã nói: Thế gian có bát vạn nghề/ Con phượng thì múa con nghê thì chầu.  Tôi nghĩ nghề đối với nhà thơ chính là cách đi tìm… thơ. Mỗi người thợ săn có cách riêng để bắt thú và mỗi con thú sẽ có cách riêng biến ảo để tránh người thợ săn. Hình như có quy luật, ai tìm ra vẻ đẹp đúng quy luật được nhiều người chia sẻ hơn.


Thơ phong phú, cái đẹp phong phú,  nhà thơ cũng phong phú không ai giống ai, Càng cá tính càng tốt. Cái khó của nhà thơ đến sau là cái khó của người cắm hoa khi trên bàn đã có một lọ hoa đủ màu sắc.  Cái khó của nhà thơ đi trước lại chính là ngôn ngữ mới do đời sống mới sinh ra. Nhà thơ đến sau thua nhà thơ đến trước về tuổi tự nhiên nhưng lại hơn nhà thơ đến trước về tuổi trời đất! Ví như nhà thơ nay hơn cụ Nguyễn Du đến gần hai thế kỷ. Trong hai thế kỷ đó con người đã đi xa biết bao nhiêu mà dù cụ có thiên tài đến mấy cũng không có được! Nhà thơ đến sau được hưởng nhiều thành quả sáng tạo mà nhà thơ đến trước chưa có. Khái niệm kinh nghiệm không tồn tại với nhà thơ! Vì thơ đồng nghĩa với sáng tạo.

 

       Để đi đến vẻ đẹp độc đáo chỉ có thơ mới có và cũng như thế thơ mới có quyền tồn tại, được tồn tại. Vì vậy mà nhà thơ tìm mọi cách để thể hiện cái đẹp mang màu sắc riêng. Các cuộc cách mạng thơ liên tục xuất hiện từ ngay trong mỗi nhà thơ. Có lẽ không ở đâu, ở công việc nào mà tính đột phá cách mạng lại ghê gớm như thơ. Không chấp nhận con đường mòn có sẵn, không đi tập thể, tự mình tìm để đi đến cái đẹp như thơ. Thơ vốn như tồn tại sẵn trong thiên nhiên, trong xã hội. Các bài thơ thứ nhất đó, khi như cố tình che khuất, khi như nằm trắng trượt, vẫn đầy thách thức đối với bất kỳ nhà thơ nào. Bài thơ của nhà thơ thật ra chỉ là bài thơ thứ hai. Giữa bài thơ thứ nhất và bài thơ thứ hai còn một khoảng cách. Đối với nhà thơ tài năng thì khoảng cách đó ngắn.

 

      Tôi thấy có hai cách  đổi mới trên con đường các nhà thơ đi tìm cái đẹp, cái mới, cái lạ. Đó là đổi mới trong nội dung và cách tân trong hình thức thể hiện. Trong hai cách đó, những ai đi tìm nội dung mới thường hay đến đích hơn bởi một lẽ đơn giản là hình thức thể hiện đã được quy định từ trong cảm xúc và nội dung. Nội dung mới của thơ chính là phản ánh sự phát triển mạnh mẽ, ngày càng mạnh mẽ của đời sống hiện thực tác động đến tâm tư tình cảm của con người tương ứng, tạo ra những tình cảm mới thích ứng để phát triển. Nhưng chính cuộc sống lại thách thức các nhà thơ về cách nhìn, cách tiếp cận đúng, theo hướng vận động của đời sống hay của lịch sử. Đó cũng là quá trình sàng lọc khắt khe đối với chính nhà thơ. Cửa nhà thơ tồn tại theo lịch sử quá hẹp.

 

        Không có nhà thơ nào lại định sẵn cho mình khi viết bài thơ thì phải câu nệ thể loại. Thơ tự nó sinh ra thể loại. Thơ tự do tìm lấy người mình yêu, tuyệt nhiên không yêu cầu và chấp nhận người mai mối. Thơ là cây thông Nguyễn Công Trứ, đôi chim nhạn của Tản Đà.  Thơ sinh sống trong vương quốc tự do. Hình thức thơ, phụ thuộc vào cảm xúc và nội dung thơ.

 

         Đã có một số nhà thơ suốt đời đi tìm sự cách tân hình thức. Tôi thấy hình ảnh người thợ thủ công tỉ mẩn, khéo tay, nắn nót trước sản phẩm của mình. Nhà thơ Bích Khê là một trong những người đi đầu trong việc cách tân thơ. Nhưng những bài thơ hay nhất của ông như Tranh lõa thể hay Ngũ hành sơn… theo tôi cuối cùng cũng bị chính cảm xúc và nội dung của bài thơ dắt dẫn ông. Nhô lên núm vú đồi/ sữa trăng nhi nhỉ giọt, tả ánh trăng mà thấy đến thế thật có một không hai! Trái lại, hình như Nguyễn Bính lại không hề quan tâm cách tân hình thức. Ông cứ trung thành với tự nhiên và truyền thống. ấy thế mà nhiều bài thơ, nhiều câu thơ của ông hoan liệt vô cùng. Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay/ Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy. Hình như ta mất mát một cái gì đó,  lòng ta chất nặng một nỗi niềm trước bước đi tất yếu của thời gian. Tầm vóc! Thật tầm vóc (ý Tô Hoài). Nhiều ý kiến cho rằng Nguyễn Bính là nhà thơ đồng quê. Tôi vẫn thích xem ông là Nhà Quê, với điều kiện chữ Nhà Quê phải viết hoa. Nhưng Nguyễn Bính phong phú hơn nhiều. áo cài khuy bấm em làm khổ tôi, thì không thể một nhà thơ Nhà Quê nào khác viết được. Khi đã đạt được thơ rồi thì nó cứ trẻ mãi, đẹp mãi. áo em trắng quá nhìn không ra (Hàn MặcTử), Mưa xuân tươi tốt cả cây buồm (Huy Cận), Một mảnh tình riêng ta với ta (Bà Huyện Thanh Quan)… Không biết các nhà thơ hay tìm tòi ngôn ngữ diễn đạt rối rắm nghĩ gì, khi những câu thơ hay lại là những câu thơ giản dị đến không ngờ?

 

        Tôi có đọc nhiều người ngay trên vnweblogs này cũng có, sự phá thể, phá cách do người viết quá chú ý từ trước nên ít hay được. Điều kỳ lạ đã xảy ra là tập thơ chữ cái lại được giải! Thơ đâu phải hàng thủ công, nhà thơ đâu phải thợ thủ công. Thơ hồn nhiên, trong veo như mắt trẻ con, đáng yêu như búp bê. Thơ là rượu cất lên từ cái buồn đau mà đẹp của đời sống. Thơ là tiếng hót không kìm được của  họa mi khi trăng lên. Thơ là tiếng đàn violon cao vút mà gần gũi con người. Thơ là dải lụa nhiều màu làm mát mắt mọi người. Thơ có cái cao sang của cỏ. Thơ hay không câu nệ công chúng.

      

  Khoa học có thể tạo ra con người từ ống nghiệm, nhưng không thể đứa trẻ ra đời dưới chín tháng mười ngày! Đừng vội gì hết, số lượng tuy cũng cần nhưng đối với thơ dường như ít ý nghĩa. Bà huyện Thanh Quan thì mãi mãi là nhà thơ ít số lượng nhất. ấy thế mà ba bốn bài thơ đường luật của bà làm cho thành phố nào cũng lấy làm hãnh diện khi lấy tên bà đặt cho đường phố của mình. Nhà thơ Chế Lan Viên cũng có lần nói, thơ dân chủ nhất, người có một câu cũng như người có một bài, một tập! Vấn đề là có thơ không?

 

       Ngay cả tên nhà thơ có khi cũng không quan trọng quá vì đơn giản, thơ đến trước, tên nhà thơ đến sau. Người ta đã từng hỏi đường về quê người sáng tác Truyện Kiều chứ không nhớ Nguyến Du. TTKH vẫn là một ẩn số, chỉ vài bài thơ mà bao nhiêu năm, bao nhiêu công trình nghiên cứu hướng một mục tiêu: TTKH là ai? Mọi áp đặt đều không thể đối với thơ. Con đường thơ đến với hồn người được xuất phát từ hồn người chứ không phải từ thơ. Nhưng thơ cũng không vì thế mà bị động, đợi chờ, thơ sẽ đi đàng hoàng đến, không nịnh mỵ người đọc. Vì thơ biết vòng đời của thơ không phụ thuộc vào các nhà thơ.

 

3.  Chưa bao giờ nhà thơ nói riêng con người nói chung lại “khổ sở” như bây giờ! Cải khổ thân yêu của sự phát triển. Cái mới xuất hiện và cũ đi nhanh chóng. Cuốn sách bị lạc hậu khi đang viết! Câu thơ hay cũng khó lòng tồn tại lâu, hoặc được nhiều thế hệ chia sẻ. Nhà thơ như một ca sỹ đứng hát giữa cánh đồng đầy gió!Các thế hệ độc giả không cùng nhận thức, không cùng niềm vui. Bởi lẽ họ là sản phẩm của sự phát triển mạnh mẽ trong từng giai đoạn. Cách mạng khoa học công nghệ phát triển vũ bão hơn theo thời gian, lực lượng sản xuất bùng phát, phá vỡ bất kỳ cái lồng nào nhốt nó. Khái niệm mốt cũng chỉ tồn tại theo ngày tháng. Sản phẩm trí tuệ khoa học ứng dụng ngay, từ khi vừa cho kết quả. Hai xu hướng kinh tế không biên giới và văn hoá phải dân tộc hóa đang chứng minh hằng ngày trên thế giới. Bây giờ làm sao có được những giờ, những ngày cả nhà quây quần bên bếp lửa mùa đông để nghe bà kể chuyện nữa. Cái ăn không quá thiếu, cái chơi mở ra ngan ngát, ít có thời gian để… buồn! Nhưng lại có nhiều bế tắc ngay trong mỗi con người, ít có thời gian để bình phẩm một câu thơ hay! ít có sự lôi kéo lặng lẽ của vẻ đẹp mang vẻ tự nhiên, không ma ket tinh! Trong sự thay đổi chóng mặt đó, các thế hệ tiếp nhận rất khác nhau, thơ may lắm tồn tại trong cùng một thế hệ. Câu thơ hay cũng bị chìm đi nhanh chóng trước ngách nhỏ thời gian mà mỗi người có được. Ngày nay, trong kinh tế, người ta dùng chiến lược sản xuất hàng hóa rẻ tiền, chóng hỏng!Thơ thì lại lao động thủ công, thơ không sản xuất hàng loạt được, thơ không công nghiệp được!Thơ như không cần đến nhân lực, công nghệ hay trình độ quản lý… Thơ chỉ dựa vào thơ thôi!  

 

      Vậy thì thơ của thời kinh tế thị trường toàn cầu hoá sẽ ra sao? Liệu thơ có thể đứng yên không, hoặc thay đổi chậm? Hai khả năng đó tức là đi thụt lùi. Trong điều kiện mới ấy, các nhà thơ trẻ có nhiều lợi thế nếu xem xét về mặt lý thuyết.  Nhưng mấy chục năm qua chủ yếu thơ của những người trẻ tuổi lại đột  phá ở hình thức và một số nội dung không căn bản. Không có lửa chúng tôi làm ra lửa (Hữu Thỉnh), câu thơ hình như có ý nhắc nhở sự chủ động nhất định đối với mọi người, đối với thơ càng cần thiết. Nếu không, cuộc sống phong phú hơn mà hình như thơ lại nghèo đi. Một số người cho rằng cái gì trước đây không thích hợp,  không viết thì bây giờ cứ thế mà viết. Cuộc đời có cái gì thì thơ có cái đó. Thơ sex như một sự bù trừ lớn nhất. Sex cũng không sao, nhưng thơ thì phải đẹp. Đẹp để chia sẻ với con người căng thẳng trong cuộc sống hiện tại. Không hiểu từ đâu và vì sao một số người trẻ tuổi làm thơ lại rất buồn? Cuộc đời có buồn không, dường như nó trườn qua cái buồn mà đến cái đẹp. Dù như thế nào cuộc đời vẫn là một sự phát triển biện chứng. Một số khác (ít thôi) lại viết như thơ nước ngoài. Một số không vượt qua được thơ mới, thấp hơn thơ mới, một số viết theo thơ Đường!

 

      Khi văn hoá dân tộc đã đứng vào vị trí quan trọng nhất của sự phát triển ở tất cả các nước thì ở ta không phải nhà thơ nào cũng tôn trọng đúng mức. Ngày càng có nhiều con đường trên thế giới đi rất dễ lạc thế mà la bàn của các nhà thơ hình như ít có hoặc la bàn cũ quá.  La bàn đó được cấu tạo từ văn hóa dân tộc. Nền móng nhà thơ phải được đúc bằng văn hóa dân tộc. Một số nhà thơ trẻ không biết tục ngữ, ca dao và Truyện Kiều. Thơ cứ khư khư chủ quan, yên phận, không ít nhà thơ xem thẻ hội viên nhà văn như cái bùa hộ mệnh, chứng chỉ tài năng!Những nhận thức ấu trĩ như thế góp phần giết chết thơ. Họ đã đang và sẽ bi văng ra khỏi thơ mà không biết.

 

      Chưa bao giờ thực tiễn lại đòi hỏi trình độ nhiều mặt, sự chín chắn, tầm tư duy của nhà thơ như lúc này, khi thế giới đã toàn cầu hoá kinh tế. Năng khiếu và kiến thức rộng lớn,  vốn sống cơ sở của tác phẩm thăng hoa chứ không phải sự dung tục làm người ta nổi tiếng! Hơn ai hết, nhà thơ trước hết phải là nhà văn hóa. Thiếu điều này, dấu hiệu cho thấy họ đã đi ngược với lịch sử. Đó là những báo hiệu một bộ phận thơ Việt Nam còn quá trì trệ và đang có lúc mất hướng, có vẻ lạc lõng vì không nhận thức được cuộc sống đang ngày càng trở nên phức tạp và mới.   

 

Nguồn:Văn nghệ

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here