Người “biên soạn” nhiều,

người “hiệu đính” ít

 

Phạm Khải

Có cầu ắt có cung – khi độc giả ngày càng có nhu cầu tìm đọc những cuốn sách mang tính chất tổng hợp theo chuyên đề, thì số tác giả, nhà nghiên cứu tham gia vào việc tuyển lựa, biên soạn bản thảo từ những bài báo lẻ in rải rác đây đó cũng ngày một trở nên đông đảo. Thị trường xuất bản nhờ thế thêm phần sôi động. Cái được ở mặt này ta có thể dễ dàng nhìn thấy và cái “chưa được” cũng không hề nhỏ. ấy là, thay vì mỗi soạn giả phải đồng thời là một nhà “hiệu đính”, họ chỉ làm độc mỗi việc tuyển chọn. Còn giữa các bài viết với nhau, chúng có gì khác biệt, có độ vênh thế nào thì họ hoàn toàn phủi tay, dửng dưng như một kẻ “ôm con bỏ chợ”.

Xin được mở đầu bằng cuốn sách “Nguyễn Đình Thi bí mật cuộc đời” (NXB Văn học, 2008). Ngay bài mở đầu “Nguyễn Đình Thi thật như đùa” đã có những chi tiết rất không… chính xác. ấy là khi tác giả Lưu Hương khẳng định: “Từ đỉnh cao là đại biểu quốc dân đại hội Tân Trào ở chiến khu Việt Bắc trở về Thủ đô, anh Nguyễn Đình Thi xuất hiện là vị bộ trưởng trẻ tuổi nhất trong chính phủ cách mạng lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Đọc tất cả những thông tin chính thức về Nguyễn Đình Thi, kể cả tiểu sử tóm tắt trong cáo phó in trên các báo ngày ông tạ thế (và cả ở bản điếu văn in trong chính cuốn sách này), không hề có dòng nào cho thấy nhà văn Nguyễn Đình Thi từng giữ chức vụ Bộ trưởng cả. Trong danh sách các vị Bộ trưởng của Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không có tên ông. Chưa hết, cũng trong bài viết nói trên, tác giả còn cho biết: “Nhà văn Nguyễn Tuân được thôi giữ chức vụ Tổng Thư ký Hội Nhà văn, để anh Nguyễn Đình Thi lên thay”. Sự thật thì nhà văn Nguyễn Tuân từng giữ cương vị Tổng Thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam chứ chưa bao giờ là Tổng Thư ký Hội Nhà văn cả. Nói Nguyễn Đình Thi “lên thay” ở đây là thay nhà văn Tô Hoài (ông nguyên là Tổng Thư ký đầu tiên của Hội Nhà văn Việt Nam). Điều này chứng tỏ cuốn sách hoàn toàn thiếu vắng vai trò “hiệu đính”. Bởi nếu các tác giả từng bài viết lẻ ấy có sai, thì người biên soạn vẫn có thể cho in nguyên văn song phải có lời chú thích ở dưới.

Cuốn “Nhớ Phùng Quán” do NXB Trẻ ấn hành cách đây ít lâu (tập hợp nhiều bài viết của bạn bè, đồng nghiệp các thế hệ về nhà thơ Phùng Quán), mặc dù được biên soạn tương đối công phu, song cũng để lộ một số bất cập cả ở chi tiết và số liệu. Ví như, ở phần “Lời nói đầu” và phần “tiểu sử văn học”, người biên soạn đều cho biết nhà thơ sinh năm 1932, vậy mà trong tập, có chỗ (như ở trang 95) lại ghi ông sinh năm 1931. ở phần tiểu sử, trong danh mục các tác phẩm chính của ông có ghi “Võ Thị Sáu” – trường ca, 1955, trong khi ở các trang tiếp sau, chỗ thì ghi tên cuốn này là “Tiếng hát trên địa ngục” (trang 30), chỗ thì ghi “Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo” (trang 95), chỗ lại ghi “Trường ca Võ Thị Sáu” và “Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo” (trang 169), như thể đó là 2 cuốn khác nhau (kỳ thực, tên gọi đúng của cuốn trường ca này phải là “Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo” – ấy là tôi căn cứ trên tấm hình bìa sách được chụp in trong cuốn hồi ký của Phùng Quán “Tôi đã trở thành nhà văn như thế nào” do NXB Văn nghệ ấn hành cách đây ít tháng).

Mấy năm qua, NXB Giáo dục đã liên tiếp cho ra mắt bạn đọc nhiều tập trong bộ sách đồ sộ “Về tác gia và tác phẩm”. Nhiều giáo sư, nhà nghiên cứu phê bình văn học đã tham gia biên soạn bộ sách này. Tuy nhiên, dẫu gắn mác của một NXB có tiếng về sự quy chuẩn trong biên tập và in ấn, vậy mà đây đó ta vẫn bắt gặp những sự “tiền hậu bất nhất” rất khó giải thích ở một số trang sách. Như trong cuốn “Nguyễn Huy Tưởng – về tác gia và tác phẩm”, ở phần “Niên biểu”, những người biên soạn ghi rất cặn kẽ: “8-6-1942: Viết xong Vũ Như Tô”, vậy mà ở trang 95, một tác giả khác lại viết “Nguyễn Huy Tưởng viết xong Vũ Như Tô vào mùa hè 1941”, còn ở trang 69, cứ theo cách viết thì đâu như vở kịch “Vũ Như Tô” lại ra đời mãi tận năm…1943, sau khi Nguyễn Huy Tưởng gia nhập tổ chức Văn hóa Cứu quốc của Đảng và những ảnh hưởng của tư tưởng cách mạng đã chi phối đến cảm hứng sáng tạo của ông.

Cùng nằm trong bộ sách “Về tác gia và tác phẩm”, cuốn “Nam Cao – về tác gia và tác phẩm” (NXB Giáo dục ấn hành năm 2005) cũng khiến bạn đọc không khỏi bực mình bởi sự vênh nhau giữa một số bài mà rốt cục, không có soạn giả nào đứng ra giải thích cho nên đầu nên đũa. Nếu như ở phần “Tiểu sử Nam Cao”, các nhà làm sách cho biết nhà văn của chúng ta sinh ngày 29-10-1917 và hy sinh vào ngày 30-11-1951, thì ở bài viết in kề ngay sau đó (trang 44), một tác giả đã lại cho hay: “Đầu tháng 11 năm 1951, nhà văn Nam Cao, đảng viên Đảng Lao động Việt Nam đã hy sinh ở Liên khu Ba” và khi mất ông “mới ba mươi sáu tuổi”. Như vậy, chỉ cách nhau mấy trang giấy ta đã thấy giữa năm sinh và ngày mất của Nam Cao – thể hiện qua 2 tác giả – đã khá lệch nhau.

Xung quanh cái chết của Nam Cao, sách cũng có những tình tiết không đồng nhất. Nhà văn Nguyễn Minh Châu (ở trang 105) thì viết “tôi được nhà văn Tô Hoài kể cho nghe về chuyện nhà văn Nam Cao của chúng ta bị hy sinh. Trong một chuyến vào vùng sau lưng địch ở đồng bằng Bắc Bộ, ông bị giặc Pháp phục kích ở bờ sông Đáy. Chúng bắt được ông cùng mấy cán bộ, đem nhốt vào một cái lô cốt nằm sát hàng rào ở bốt Hoàng Đan. Thế rồi giữa đêm hôm tối tăm, một thằng lính Tây hay lính ngụy nào đó, chẳng biết là nó tuân lệnh quan đồn Tây hay thua bạc hoặc say rượu cho nên tính nết trở nên ngất ngưởng, đã nổ súng bắn chết Nam Cao cùng với mấy người cán bộ đang bị nhốt trong cái lô cốt tối om”. Còn nhà văn Tô Hoài – người được đưa dẫn trong câu chuyện trên thì lại kể (ở trang 500): “Một đoàn cán bộ vượt cánh đồng chiêm vào công tác vùng địch hậu tạm chiếm liên khu Ba, đến giữa quãng Miếu Giáp, Hoàng Đan (Ninh Bình) thì bị biệt kích giặc phục kích. Chúng bắt được một số cán bộ, rồi bắn các anh ngay ở chỗ ấy. Trong những đồng chí hy sinh tối hôm đó trên bến đò Hoàng Đan, có Nam Cao của chúng ta”. Rõ ràng, vị trí và hoàn cảnh nhà văn Nam Cao và đồng đội hy sinh, giữa hai lời kể có phần không thật hoàn toàn khớp nhau. Vậy nhưng, người biên soạn vẫn tịnh không có ý kiến gì, cứ như người “vô can”.

Thiết nghĩ, một nhà xuất bản mà đối tượng phục vụ chủ yếu là các giáo viên, các em học sinh, và các ấn phẩm hầu hết là phục vụ cho việc thi cử, rất không nên để xảy ra các lỗi như vậy.

Cuốn “Xuân Quỳnh – thơ và đời” do NXB Văn hóa- Thông tin ấn hành năm 2004 là cuốn sách được tái bản nhiều. Tiếc là, dẫu đã in đi in lại, song cuốn sách vẫn để lọt những lỗi đáng tiếc. Như ở bài “Xuân Quỳnh – một nửa đời tôi” do bà Đông Mai, chị gái của nữ sĩ Xuân Quỳnh chấp bút, đã cho biết: Tháng 2 năm 1975, Xuân Quỳnh vào bệnh viện sinh con (tức bé Quỳnh Thơ, con chung duy nhất của Xuân Quỳnh với Lưu Quang Vũ); vậy nhưng, ở trang 157, trong bài viết của một tác giả khác, người đọc lại bắt gặp dòng chữ “năm 1972, bom đạn ác liệt, chị sinh cháu Quỳnh Thơ. Khi tôi nói điều này với tác giả bài viết thì được ông giải thích là do nhà in in nhầm con số. Kì thực, đọc dòng chữ trên, ta khó có thể tin như vậy. Bởi dẫu có là năm 1975, thì Hà Nội cũng không thể “bom đạn ác liệt” được. Điều này ta trách người viết một thì lại trách người biên soạn…mười. Bởi khi chọn lựa các bài viết lẻ vào cùng một tập sách, đáng ra người biên soạn phải có cái nhìn bao quát toàn tập và phải kiểm soát được những thông tin chính yếu liên quan đến tác giả và thân nhân của họ.

Nếu như trước đây, để biên soạn một cuốn sách, các soạn giả phải rất công phu tìm kiếm tài liệu, thậm chí còn phải xuôi nam ngược bắc, chép tay từ những bản lưu trữ ở các thư viện, kể cả sao chụp ở những thư viện nước ngoài, thì hiện nay, với sự hỗ trợ của các phương tiện khoa học kỹ thuật, thao tác này trở nên giản tiện hơn nhiều. Bù vào đó, các soạn giả phải thể hiện được quan điểm của mình, sự nghiêm túc trong mặt thu thập tư liệu thông qua việc chú giải, hiệu đính những điều chưa được chuẩn mực về mặt thông tin ở từng bài viết đơn lẻ của các tác giả (nếu có). Tiếc thay, điều mà các độc giả đòi hỏi họ nhất thiết phải có ấy lại là khâu yếu nhất của các soạn giả ngày nay.

 

Bài đã đăng báo VNT

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here