Truyện Kiều của Nguyễn Du, khi tả nàng Kiều lần đầu tiên gảy đàn cho Kim Trọng nghe, có câu:

 

Khúc đâu Tư Mã Phượng Cầu

Nghe ra như oán như sầu, phải chăng…

 

Đó là khúc đàn mà Tư Mã Tương Như, một nhà từ phú nổi tiếng đời Hán, có một mối tình với một nữ sĩ cùng thời là Trác Văn Quân, một mối tình đẹp được ghi vào sử sách. Trác Văn Quân ngoài sắc đẹp còn là một người có tài văn chương. Trong tuyển tập Một vạn bài thơ nổi tiếng trong 5000 năm ở Trung Quốc, có tuyển của Trác Văn Quân một bài, viết về mối tình của mình với Tư Mã Tương Như.

 

Đó là bài Bạch đầu ngâm.

“Ngai như sơn thượng tuyết

Hạo nhược vân gian nguyệt.

Văn quần hữu lưỡng ý

Cố lai tương quyết tuyệt

Kim nhật đấu tửu hội

Minh đán câu thủy đầu

Tiếp điệp Ngự câu thượng

Câu thủy đông, tây lưu?

Thê thê phục thê thê

Giá thú bất tương đồ.

Nguyện đắc nhất tâm nhân

Bạch đầu bất tương lý

Trúc can hà niệu niệu

Ngư vĩ hà đồ đồ

Nam nhi trùng ý khí

Hà dụng tiễn đao vi.

Xin được dịch là: Khúc ngâm đầu bạc.

Trắng xóa như tuyết núi

Sáng đẹp tựa trăng mây

Nghe chàng có ý khác

Dứt tình người trước đây

Hôm nay hội đọ rượu

Đầu khe núi ngày mai!

Lững thững đầu núi Ngự

Nước xuôi đông hay tây?

Se lạnh rồi se lạnh

Lấy vợ chớ nên buồn

Nguyện là người đồng tâm

Bạc đầu không phai nhạt

Ngọn trúc sao phơ phất

Cá lượn sao lững lờ

Làm trai cần mạnh mẽ

Gây đau lòng làm chi!.

 

Một bài thơ tình, nghe tin người yêu muốn đi lấy vợ, dứt tình với mình, mà viết… Tình sâu, buồn lớn mà thanh thản, điềm tĩnh, bày tỏ tình cảm đang đè nặng tâm can, yêu đến đỗi mà dang dở… Song không hề chi, dù buồn khổ, vẫn mong người mình yêu hãy biết tấm lòng cho mình, mà mong chàng mạnh mẽ dứt tình, được sống trong hạnh phúc… Một bài thơ tình cách đây gần hai ngàn năm, viết trong bốn bề phong kiến ràng buộc mà thắm thiết, mà bồi hồi đến thế! Do đó mà mối tình Tư Mã Tương Như và Trác Văn Quân, được lưu truyền mãi ở đời sau… Đến nỗi, khi Kiều gặp Kim Trọng, sau khi đã thề thốt, Kiều gảy đàn cho Kim Trọng nghe, Nguyễn Du cũng nhắc đến trang tình sử đẹp này…

 

Ban Tiệp Dư, một nữ sĩ nổi tiếng đời Hán, được vua tuyển vào cung, trọng vì tài, mê vì sắc, nhưng sau này, bị rèm nên không được sủng ái như trước. Nàng buồn và đã để lại những bài thơ nổi tiếng, trong đó có bài Oán ca hành:

 

Tân liệt tề hoàn tố

Hạo khiết như sương tuyết

Tài thành hơp hoan phiến

Đoàn đoàn tự minh nguyệt

Xuất nhập quân hoài tụ

Động dao vi phong phát

Thường khủng thu tiết chí

Lương tiêu đoạt viêm nhiệt

Khí tôn khiếp tư trung

Ân tình trung đoạn tuyệt.

Oán ca hành:

Lụa mới mịn, tay cắt

Trong trắng như sương tuyết

Làm ra quạt hợp hoan

Tròn sáng như vầng nguyệt

Ra vào, tay áo thơm!

Lay động, gió nhẹ vương,

Lòng sợ mùa thu tới

Trời mát thôi bức bối

Bỏ quạt vào tráp sơn

Tình cũ cũng dần quên…

(Bản dịch của Ngô Văn Phú)

 

Thơ buồn da diết của người tiếc cho tài sắc một thời của mình đã dâng trọn cho vua, mà cuối cùng cũng bị cất kỹ trong tráp quý như một chiếc quạt lụa hợp hoan từng làm mát, từng được ưa thích suốt mùa hè… Thơ có hơi hướng của Kinh thi, mặn mà trong sáng, buồn mà không bi thương, được lưu truyền là phải…

 

Một người đẹp khác là Triệu Phi Yến, từng được Hán Thành đến rất yêu, rồi cũng bị sơ. Buồn, viết lời than nhớ thời được yêu vì, thời xuân sắc nhất:

 

Quy phong tống viễn tháo

Lương phong khởi hề thiên vẫn sương,

Hoài quân tử hề diễn nan vương

Cảm dư tâm hề đa khái khảng.

Nghĩa là:

Gió về tiễn người đi xa

Gió mát thổi hề… sương đang rơi

Nhớ người quân tử hề… nơi xa vời

Cảm lòng ta chăng hề… xiết bao ngậm ngùi…

 

Thơ như một lời ca, nói một nhớ mười, thương yêu kín đáo mà dằng dặc…

 

Một nàng công chúa, lá ngọc cành vàng, con tước vương Hán Giang Đô Liêu Kiếp, những tưởng đời mình tràn đầy hạnh phúc. Ngờ đâu, theo lối mua chuộc những nước láng giềng của bậc đế vương xưa, đã bị Hán Vũ Đế, gả cho chúa nước Tây Vực. Đó là Công chúa Lưu Tế Quân còn gọi là Ô-Tôn công chúa. Người đẹp này cũng gửi lại đời sau một bài thơ tình buồn:

 

Bi sầu ca

Ngô gia giá ngã hề… thiên nhất phương,

Viễn thác dị quốc hề… Ô Tôn vương.

Khung lư vi thất hề… chiên vi tường,

Dĩ nhục vi thực hề… tâm nội thương,

Nguyện vi hoàng hộc hề… hoàn cố hương…

Khúc ca buồn thương

Đức vua gả ta hề… một phương trời

Vợ Ô Tôn vương hề… nước lạ xa xôi

Thịt là lương thực hề… sữa để uống,

Thường nhớ đất Hán hề… lòng tổn thương.

Nguyện làm ngỗng trời hề… trở về quê hương…

(Bản dịch của Ngô Văn Phú)

 

Thơ là tiếng bi thương, ai oán, đứt ruột… nói được thân phận, còn là lời tố cáo rất đời thường mà vô cùng quyết liệt…

 

Tình cảnh như Lý Tế Quân, nhưng bi kịch lạ trầm trọng hơn, đó là hoàn cảnh của Vương Chiêu Quân. Vương Chiêu Quân còn có các tên khác là Vương Tường, Minh Quân, người đời sau thì gọi nàng là Minh Phi, được tôn vào loại tứ đại mỹ nhân của Trung Quốc, nhưng số phận lại thật đáng buồn. Nàng được đám người đi tuyển cung phi cho vua chọn, nhưng vì không có tiền đút lót cho người vẽ tranh dâng lên vua xem mặt trước (có thuyết nói là do Mao Diên Thọ, vì không được hối lộ, gã thương phu trích lệ, tức nốt ruồi sát chồng, nên không được tuyển. Về sau gả cho Hung Nô, vua mới biết nàng đẹp, bèn giết Mao Diên Thọ…), do đó không được hầu vua. Sau đó, bị gả cho chúa Hung Nô, để hòa hiếu. Chiêu Quân, khi người chồng thứ nhất là chúa Hô Hàn Tà mất, nàng còn theo tục nối dây, phải lấy người nối ngôi của y. Nàng chết, di nguyện được chôn gần biên giới. Bởi thương nhớ nhà Hán nên mộ của nàng, bốn mùa cỏ đều xanh, gọi là Thanh trủng. Chiêu Quân gửi lại đời sau một bài thơ đầy ai oán:

 

Oán thi

Thu mộc thê thê,

Kỳ diệp ủy hoàng.

Hữa điểu xử sơn,

Tập vu bào tang

Dưỡng dục mao vũ

Hình dung sinh quang.

Ký đắc thăng vân,

Thướng du khúc phòng.

Ly cung tuyệt khoáng,

Thânhà thơ hế thôi tàng.

Chí niệm ức trầm,

Bất đắc hiệt hàng,

Tuy đắc ủy thực

Tâm hữu bồi hoàng

Ngã độc y hà,

Lai vãng biến thường.

Phiên phiên chi yến.

Viễn tập Tây Khương

Cao sơn nga nga,

Hà thủy ương ương

Phụ hề, mẫu hề,

Đạo lý du trường.

Ô hopo, ai tai,

Ưu tâm trắc thương…

Thơ oán

Tây thu um tùm,

Lá đang đổ vàng,

Có loài chim núi,

Bay trên dâu ngàn.

Đủ lông, đủ cánh,

Hình dung đẹp xinh

Bay vút lên mây,

Quanh miền bãi rộng.

Ly cung sâu vắng,

Mình gầy, vóc xương.

Chí lự, nhụn mòn,

Khó cất mình lên.

Dẫu được nuôi chăm,

Dạ thường hốt hoảng.

Ta là vậy sao?

Qua lại chẳng thường!

Sải dài cánh én,

Bay đến Tây Khương.

Núi cao thăm thẳm

Nước thì cuộn dâng.

Cha ơi, mẹ hỡi…

Dài thay dặm trường.

Hỡi ơi! Buồn vậy!

Lo sầu vấn vương!

(Bản dịch của Ngô Văn Phú)

 

Có lẽ, so với những nữ sĩ xinh đẹp kể trên thì hoàn cảnh của Vương Chiêu Quân là bi thiết hơn cả. Cho nên, Oán thư của họ Vương, từng câu, từng câu uất ức, nghẹn ngào, ngàn năm sau đọc còn thương cảm…

Thơ tình buồn mới hay, và đâu chỉ nay mới có. Ngót hai ngàn năm trước tình khúc buồn đã day dứt khôn nguôi…

 

Tháng Kỷ Tỵ, năm Kỷ Sửu 2009

 

Bài đã đăng Văn nghệ Trẻ

 

Phongdiep.net

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here