TRẦN THIỆN KHANH
( Viện Văn Học – 20 Lý Thái Tổ, Hà Nội)

1 – Phê bình văn học địa phương đang bỏ “trận địa” vì thiếu người làm phê bình và thiếu định hướng

Nhìn vào đội ngũ làm phê bình văn học ở các địa phương hiện nay, ta sẽ thấy tình trạng thiếu hụt đội ngũ đang ở mức báo động đỏ. Phần lớn, những người được liệt vào danh sách hội viên chuyên ngành lí luận phê bình đều đã có tuổi. Tất nhiên chúng ta không thể đòi hỏi họ, trong mai mốt hay hiện thời, phải dấn thân và cống hiến những gì lớn lao hơn sức vóc của họ nữa. Những người làm phê bình có “nghề”, có lí luận ở địa phương quý thì quý thật, nhưng ngang dọc mà trông, cũng thấy rất hiếm. Cứ nhìn vào mục “phê bình- giới thiệu” trên tạp chí Văn nghệ Đất Tổ (Phú Thọ), sẽ thấy hiện tượng một số văn sĩ của ta phải kiêm nhiệm chức năng phê bình; còn các hội viên phê bình đã “bỏ nhà, bỏ cửa” mất hút tận đâu. Mà có lẽ họ cũng không ý thức được rằng, trên mảnh đất phê bình – giới thiệu của mình, đã có nhiều thứ cỏ lạ làm vướng lối ta đi lắm rồi.


Phê bình văn học địa phương đang vận động bằng cách nghiệp dư hoá, lão hoá sự viết, sự đọc. Phần lớn người làm phê bình văn học xuất thân từ nghề dạy học, trình độ lí luận thấp, lại ít cập nhật thông tin. Vậy nên, mặc dù không gian để cất lên tiếng nói văn chương khá phong phú, song chúng ta vẫn không thấy bóng dáng của nhà phê bình địa phương ở đâu cả. Người làm phê bình có tuổi mà không có tên. Một số người ham viết và muốn làm cho mình sang hơn, đã cố gắng đóng tập để công bố lấy dăm ba đầu sách. Nhưng sách của họ, nếu không tập hợp từ các bài giảng cho học sinh, thì cũng thu lượm từ các bài có tính chất thù tạc-  do cao hứng viết chơi, và đãi bôi viết lấy được. Thế mới nên chuyện: văn cảm thụ núp bóng phê bình; văn phân tích cà kê dán mác tiểu luận. Chúng ta mơ hồ thấy cái bóng của phê bình vừa ngang qua..


Trước đây, tôi từng được “người đương thời” động viên in lấy cuốn sách, rồi mới làm đơn kết nạp vào Hội Văn học Nghệ thuật của tỉnh nhà. Thoạt đầu, tôi cũng nản vì thấy cái sự ấy khó khăn đối với mình. Về sau lại thấy, trong cái rủi có cái may; may vì mình không “thấy người ta cưỡi ngựa”, mà đánh bò gẫy chân. Đến đây, tôi đang nói đến hiện tượng nhiều “người viết phê bình” âm thầm nhóm cóp các bài không in được ở đâu lại một chỗ, và chờ ngày lành tháng tốt để ra sách. Sách ra đấy, nhưng vẫn chưa đủ sức để chứng minh được rằng, phê bình văn học ở địa phương đang thực hiện tốt chức năng của mình. “Trận địa” phê bình sở dĩ bị trống, vì người viết còn hoài cổ hoặc thiếu năng lực quán xuyến những biến động của văn chương.

Chợt nhớ ngày trước, khi được kết nạp vào Hội Văn học Nghệ thuật của tỉnh nhà, tôi chẳng biết mình sẽ làm phê bình thế nào, vì không có ai sành nghề, thạo nghề dạy cho mình vài ngón; chi hội phê bình cũng chẳng có “định hướng nghề nghiệp” cụ thể gì cả. Thành ra, mạnh ai nấy làm, biết gì nói đấy, rất thiếu tính chuyên nghiệp. Thử nhìn vào tương quan thế hệ, chúng ta sẽ thấy: nếu văn bút của người già đã mòn vẹt đi, thì hứng của lớp trẻ dẫu có dồi dào đấy nhưng cũng không tránh khỏi sự dè dặt trong nỗi tập đi. Không ai dám bảo trên “trận địa” phê bình, lực lượng làm nghề này đã hùng hậu và đủ bản lĩnh để làm sang giá và sáng giá văn chương. Cá nhân tôi chưa hề nghe nói, có hội viên lí luận phê bình nào, sau khi được kết nạp, sẽ được định hướng làm chuyên môn, theo kiểu anh theo dõi mảng này, còn cô quan sát mảng kia. Tất cả đều phải tự đọc, tự học và tự thân vận động. Đã đành vận động trong không gian, thời gian, nhưng vận động trong nghề thì hãy còn mờ mịt. Giật mình nhìn lại, người làm phê bình ở ta không bị ràng buộc bởi điều kiện nào, cũng chẳng có động lực gì thúc đẩy họ. Hô hào cứ hô, chỉ trích cứ việc, riêng anh phê bình cứ vẫn ì ra thế. Các hội viên lí luận phê bình làm việc rất manh mún, và hoàn toàn tự phát. Còn những người chủ chốt trong chi hội này lại thiên về khảo cổ văn chương.

2-  Phê bình văn học địa phương đang “chết lâm sàng” và có dấu hiệu của sự cần phải “khai tử”

Phê bình văn học địa phương chưa thể hiện được sự tồn tại có lí do của mình trên sân chơi văn học. Nó đang ngủ đông hay đang chết lâm sàng – xét về mặt vai trò và vị trí của nó ở chính giữa đời sống văn chương. Đã hết thời phê bình trở thành tiếng nói quyền uy. Cũng không còn giai đoạn phê bình bình đẳng với tiếng nói sáng tạo. Công chúng văn học ít tin vào phê bình; người sáng tạo càng thiếu tin tưởng vào thiện chí của phê bình đối với họ,  thậm chí còn có người xếp phê bình đứng ở bậc thấp so với sáng tác. Thực tế chứng tỏ, phê bình văn học đang lui vào cánh gà của sân khấu, và nếu tham gia diễn trò thì nó vẫn chỉ diễn tốt ở các vở kịch câm mà thôi.
Trong khi “các nhà” động bút viết phê bình, thì anh phê bình “chính danh” vẫn cứ sờ soạng mãi mà chưa tìm được lối ra cho mình và cho văn học. Có lẽ phê bình văn học địa phương chỉ xuất hiện cho đủ lệ bộ, nghi lễ, chứ thực ra nó đã mất cảm giác trước sự rậm rạp, bề bộn của văn chương tỉnh nhà.  Ở địa phương ta, phê bình văn học độc thoại lấn át phê bình đối thoại. “Phê bình nhà trường” chiếm đất của “phê bình đời sống”. “Phê bình to tiếng” thiên về tranh khôn. “Phê bình nhỏ tiếng” thiên về tán nhảm hoặc nạo vét những nét nghĩa còn sót lại. Loại phê bình nào cũng tắt lịm sau khi cất tiếng chào đời.

Trên đại thể, nội bộ giới phê bình đang diễn ra hiện tượng  tương khinh. Người viết không thừa nhận lẫn nhau, thậm chí giễu nhại, báng bổ nhau một cách không tiếc lời. Công chúng không cần kiểu phê bình ấy. Nhà văn không được ích lợi gì từ cách làm phê bình này. Cũng giống với phê bình văn học cỡ “trung ương”, phê bình văn học địa phương chưa có một quan niệm rõ ràng và thống nhất về phê bình. Giả sử,chúng ta xem phê bình văn học có chức năng nối tiếp văn học sử, thì phê bình văn học địa phương đã làm được gì? Tôi nghĩ chưa gì cả. Còn nếu cho rằng phê bình văn học đích thực phải lấy các hiện tượng văn học đương thời làm đối tượng, thì phê bình văn học địa phương đã chết lâm sàng được một thời gian rồi.


 Tôi cho rằng, sự nửa vời hoặc bơ vơ trong quan niệm về nghề cùng với sự loạn chuẩn, thiếu chuẩn đã đẩy phê bình tiến gần đến điểm chết. Cách thức đối xử của người quản lí đối với sự phê bình lại có thể làm cho phê bình chết thêm một lần nữa. Tuy nhiên, phê bình cũng dễ bị rơi vào một kiểu chết khác, nếu người sáng tác tiếp tục hắt hủi phê bình, nếu người đọc vẫn còn ghẻ lạnh với nó. Mà suy cho cùng thì cái chết của phê bình nằm ngay trong chính nó, và do nó. Có thể nghĩ đến một viễn cảnh không xa, phê bình văn học địa phương sẽ bị khai tử?

       3 – Phê bình văn học địa phương chưa đọc “thủng” văn bản, vì thiếu lí luận và chủ yếu tán nhảm

       Phê bình văn học địa phương chưa hiện ra thành sự tự ý thức. Ngược lại, nó đang có dấu hiệu trở thành một kiểu “tự sướng” của người làm phê bình và người sáng tạo. Tôi cho rằng chính tình trạng thiếu vốn văn, vốn lí luận đã đẻ ra cách đọc cảm tính, hoặc tán nhảm của phê bình. Phê bình văn học địa phương hoặc chỉ quan tâm đến những điểm vặt vãnh, sáo mòn, hoặc giữ nguyên trạng thái văn bản bằng cách chạm nhẹ vào nó. Một số người đọc văn để tìm ý, tìm sự thật. Một số người tung ra vài câu nhận xét có tính chất đưa đẩy, rồi tiện thể kể lể cuộc gặp gỡ này nọ. Số khác vừa cà kê vừa trích dẫn dài dòng cho thành bài giới thiệu – phê bình. Cách thức làm việc của phê bình văn học địa phương, đến giờ vẫn dừng lại ở mức độ “vỗ vai, đấm lưng và xoa đầu” văn chương. “Vỗ vai” văn chương để tỏ cái ý bình đẳng và cách làm bình dân hoá phê bình. “Đấm lưng” để động viên các văn nhân thi sĩ của ta tiếp tục tần tảo trong lao động sản xuất. “Xoa đầu”để tỏ cái uy, và mong muốn vãn hồi được tiếng nói có trọng lượng của phê bình. 

    Phê bình văn học địa phương đang nằm trong “vũng ảo tưởng”. Nó ảo tưởng rằng, sự phê bình của mình có tác dụng hướng dẫn hoặc có quyền lực điều chỉnh sáng tác. Trên thực tế, anh sáng tác thường tỏ thái độ “không chịu” anh phê bình, vì họ cho rằng tính khoa học và tính chuyên nghiệp của phê bình không cao. Một số người quản lí cứ gán ép phê bình phải thực hiện chức năng này, và nhiệm vụ kia, trong khi chính anh phê bình không đủ khả năng và điều kiện để thực hiện điều đó. Tôi nghĩ không thể dùng “mệnh lệnh” hành chính và ý thức quan phương để bảo anh phê bình đứng ra uốn nắn anh sáng tác được.

    4- Phê bình văn học địa phương không gắn với đời sống văn học, vì còn quẩn quanh với văn học nhà trường

   Quan sát chuyên mục phê bình giới thiệu của tạp chí Văn nghệ Đất Tổ chúng tôi thấy, phê bình văn học hoặc chơi đồ cổ, hoặc quẩn quanh với văn học nhà trường. Nhìn đi ngó lại chỉ thấy anh phê bình địa phương viết về những giá trị đã định hình và gặp gỡ toàn những gương mặt rất quen thuộc.  Tuy rằng đây đó có người bập vào hiện tượng văn học mới,  song cách bình tán, nhận xét lại rất ngô nghê. Chứng tỏ phê bình văn học địa phương chưa thể nhập cuộc với đời sống văn chương đương đại. Phê bình văn học địa phương tự phong bế tầm nhìn, vì xa rời những vấn đề chung của văn học cả nước.

   5- Từ thực trạng công tác lí luận phê bình văn học ở Hội địa phương nêu trên, chúng tôi đề nghị mấy giải pháp khắc phục sau đây:

Hội VHNT địa phương nói chung, và Chi hội lí luận phê bình nói riêng trước hết cần xác định được đúng vị trí của lí luận phê bình văn học nghệ thuật đối với hoạt động sáng tác của Hội. Sau đó nên chú ý nhiều hơn đến hiệu quả của công tác định hướng và nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ làm lí luận phê bình của tỉnh nhà.
Thay vì mở trại sáng tác, và động viên người làm phê bình đi thực tế, Hội và Chi hội nên tổ chức một số buổi toạ đàm, hội thảo (chỉ cần ở quy mô nhỏ) bàn quanh những vấn đề quan trọng, có ý nghĩa thiết thực đối với việc nhận diện, phân loại, và đánh giá đời sống văn chương đương đại.

Bản thân người làm phê bình văn học, trước tiên cũng cần phải xác định được đặc trưng, tính chất, và nhiệm vụ, vai trò…của công tác phê bình. Tiếp nữa, phải chủ động trang bị những tri thức lí luận văn học cơ bản, và cập nhật các lí thuyết tiếp cận văn hoá, văn học. Hơn hết, phải thay đổi tư duy làm phê bình lí luận, chẳng những ở cách phản biện và văn hoá tranh luận mà còn ở cách đối xử với chính văn bản và các yếu tố ngoài văn chương.

 

Nguồn: Lethieunhon.com

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here