Nhớ TRÚC CƯƠNG

HUY THẮNG

Tôi biết nhà thơ Trúc Cương muộn. Mãi đến năm 1976 chúng tôi mới giáp mặt nhau lần đầu. Đó là khi Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc được thành lập. Tôi đang làm việc ở văn phòng Bộ Văn hóa, theo dõi mảng văn hóa miền núi và các dân tộc thì nhà thơ Nông Quốc Chấn, thứ trưởng kiêm nhiệm giám đốc Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc giao nhiệm vụ cho tôi với tư cách trưởng phòng quản lý lo phần sắp xếp, tổ chức công việc của cơ quan Nhà xuất bản. .
Tiền thân của Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc là Nhà xuất bản Việt Bắc. Khi các khu tự trị giải thể, chính phủ cho phép giữ lại một vài đơn vị như các đoàn nghệ thuật, các trường nghệ thuật, bảo tàng… và thêm Nhà xuất bản Việt Bắc. Vì có chức năng rộng hơn, đối tượng là đồng bào các dân tộc cả nước, nên nhân sự Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc được bổ sung thêm một số cán bộ người dân tộc bên Tây Bắc, dọc Trường Sơn… Riêng Tây Nguyên chưa có ai, nên một lần nhà thơ Nông Quốc Chấn bảo tôi: – Nhà xuất bản không thể thiếu người am hiểu văn hóa Tây Nguyên. Mình nghĩ rồi, có Trúc Cương là người Kinh nhưng hiểu Tây Nguyên, đã nhiều năm làm việc ở đoàn văn công Tây Nguyên, lại làm thơ. Mình đã dặn Trúc Cương đến gặp Thắng để làm thủ tục.

Ngay hôm sau Trúc Cương đến tôi, tự giới thiệu. Đó là một người đàn ông nhỏ thó, khoảng trên dưới 40 tuổi, quần áo nhầu nhĩ, luộm thuộm và có vẻ hơi bẩn. Nhưng bù lại, trên khuôn mặt nhàu nát của anh toát lên vẻ thật lành hiền và cởi mở. Anh đưa tập hồ sơ lý lịch cá nhân của mình cho tôi. Nhân đó, anh tặng tôi một tấm bưu ảnh phong cảnh. Sau tấm ảnh là lời đề tặng và một chữ ký rất bay bướm. Chữ G cuối cùng không đi xuống mà uốn lượn, bay tít lên cao. Sau đó, chúng tôi luôn có dịp gần nhau. Bộ Văn hóa phân cho Nhà xuất bản năm gian nhà tường trát, mái phi-bơ-rô xi măng nằm ngay trong khu văn công Cầu Giấy, để làm nơi làm việc. Nhà riêng của Trúc Cương cũng ngay cùng khu nên hàng ngày tôi hay ghé qua nhà anh rồi thân thiết với cả gia đình anh. Từ ngày có Trúc Cương về làm việc, mối quan hệ giữa nhà xuất bản với các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu có tên tuổi ở Hà Nội được thiết lập. Bản thảo về Tây Nguyên có nhiều hơn. Tôi nhớ, chỉ sau mấy tháng, nhà xuất bản Văn hoá Dân tộc đã có ngay 2 cuốn sách ra mắt bạn đọc. Đó là cuốn “Trường ca Đam San” do Đào Tử Chí biên soạn và cuốn bút kí Tây Nguyên mùa Cày của nhà văn Bùi Bình Thi. Chị Son – vợ Trúc Cương là người tháo vát nhưng, tính tình tuệch toạc, ít để bụng. Ngay cả khi có khách thì chị họa sĩ thiết kế mỹ thuật sân khấu vẫn cứ vừa cười nói vừa ào ào, kể tội chồng. Mặc vợ nói gì, ngồi ngay đấy nhưng Trúc Cương cũng ít bận tâm, cùng lắm chỉ ừ hữ trong miệng.

Nói đến Trúc Cương khiến tôi không thể không nhớ tới một bài thơ của nhà thơ Trịnh Thanh Sơn. Đây chỉ là một bài thơ ngắn, tặng nhà thơ Trần Vũ Mai nhưng để nói nhiều đến các bạn thơ – rượu. Người mất người còn:
Một nửa đời Mai, thơ đã nuốt
Nửa đời sau, rượu uống nốt Mai rồi
Rót một ly này đưa Định Nguyễn
Hà Nội còn Tạ Vũ, Trúc Cương – Tôi

Đây chưa phải đã là những siêu rượu. Nhưng nếu xếp trong thi giới cũng là những tên tuổi. Câu thơ của Sơn là phác thảo chân dung các nhà thơ Rượu một bên và thơ một bên. Trúc Cương là người ham rượu. Ngoài giờ làm việc, muốn tìm anh, ra các quán quen. Có khi cả buổi thấy anh ngoài quán. Điều đó diễn ra trước mắt tất cả. Anh chẳng giấu ai mà cũng chẳng giấu được ai. Không biết có phải Trúc Cương uống rượu để lấy cảm hứng sáng tạo? Riêng tôi chưa bao giờ thấy anh uống rượu xong, sau đấy ngồi vào bàn viết. Sức vóc yếu, chỉ vài chén là Trúc Cương đã lơ mơ. Hay anh có điều phiền muộn trong lòng, lấy rượu giải khuây? Cũng chẳng phải. Vợ đảm, con ngoan, cán bộ nhà nước ổn định. Có lẽ do thói quen, rồi thành nghiện. Khổ nỗi, Trúc Cương nghèo. Lương cán sự, lĩnh xong phải đem hết về đưa vợ. Son đang học tiếp ở trường sân khấu – điện ảnh và nuôi hai con ăn học. Chỉ dám găm lại ít nhuận bút. Nhưng hồi ấy đâu đã nhiều báo chí đăng thơ ca như bây giờ. Có khi vài tháng mới có bài được đăng.  Nghiện rượu nhưng Trúc Cương cũng chỉ có khả năng vài chén rượu suông. Tôi không biết uống rượu, nhưng nể và quý bạn, thỉnh thoảng tôi vẫn cùng đi.

Một lần tôi có bài đăng trên Văn nghệ Quân đội. Trúc Cương biết, hỏi tôi: Cậu lấy nhuận bút chưa? Tôi bảo chưa, lập tức Cương lấy xe đạp nói đi: – Để mình lĩnh hộ. Rồi anh sốt sắng đèo tôi. Tưởng đến tòa soạn ở Lý Nam Đế nhưng đến Ngõ Trạm vào quán rượu nơi Trúc Cương vẫn uống, dặn tôi ngồi chờ để anh đi lấy tiền. Trong túi tôi không có đồng nào nên rất lo. Nhỡ anh không quay lại hoặc giả quay lại nhưng nói chưa lĩnh được thì gay. Trúc Cương thì bao giờ trong túi có tiền? Nhưng may, gần nửa tiếng sau Trúc Cương quay lại. Cùng đến còn có Ngô Thảo và Ngô Vĩnh Bình, hai nhà phê bình văn học trong quân đội. Trúc Cương gặp 2 anh ở toà soạn, tiện mời đi luôn. Trúc Cương là thế. Đi uống rượu ở đâu thường anh cứ nhất thiết rủ thêm bạn. Rượu vào lời ra mà một mình thì ai nói và ai nghe? Trúc Cương dúi nắm tiền vào túi áo ngực tôi rồi hồ hởi kêu bà chủ đem rượu và đồ nhắm. Bốn anh em bù khú suốt mấy tiếng đồng hồ mà khi thanh toán chỉ mấy đồng. Thì cũng chỉ có chai rượu trắng, mấy bìa đậu phụ và đĩa lạc. Ngày ấy cuộc sống đạm bạc nhưng ấm cúng và vui.
Cũng quanh chuyện rượu với Trúc Cương mà có lần tôi bị trách oan. Một buổi chiều, Trúc Cương đi làm về rẽ vào cơ quan tôi bảo đi làm chén rượu. Nhưng đâu chỉ có một chén. Rượu suông thôi. Ngồi chừng hơn tiếng, đến sẩm tối thì Trúc Cương dắt xe về bảo nhà có việc. Mấy hôm sau vợ Trúc Cương gặp tôi trách ngay: Hôm nọ anh và nhà em uống nhiều rượu lắm phải không? Tôi nói có, nhưng rất ít. – Thế mà về ông ấy lơ mơ đến cả ngày hôm sau. Em đã dặn trước, về sớm ăn cơm mà cả nhà phải đợi mãi vẫn không thấy. Đến khuya cũng chẳng tăm hơi. Mấy mẹ con phải đi ngủ trước. Ông ấy về lúc nào cũng chẳng thấy ai hay. Nửa đêm thấy tiếng ngáy tưởng có trộm, em mới giật mình tỉnh dậy. Thì ra ông ấy về từ lúc nào. Say quá, chẳng biết gì, cứ thế lăn ra nền nhà ngủ. Chẳng đủ sức để leo lên giường. Sau này Trúc Cương nói lại, hôm đó, khi từ chỗ tôi về, Trúc Cương lại có bạn. Lại rủ nhau vào quán. Lúc đứng lên Trúc Cương đi không nổi. Bạn phải dìu về. Nhưng anh bạn này cũng sợ vợ Trúc Cương nên chỉ dám đưa bạn đến cửa nhà rồi chuồn thẳng.

Năm 1977 Bùi Bình Thi có tập bút ký “ Tây Nguyên Mùa Cày” tại Nhà xuất bản. Sách do Trúc Cương biên tập. Chỉ vừa giao sách cho bên Tổng Công ty phát hành sách được có mấy hôm đã thấy Trúc Cương săn đón: Có nhuận bút chưa? Cố gắng giải quyết sớm hộ mình nhé. Tôi nghĩ, chắc Bùi Bình Thi đang rất cần tiền nên mới phải nhờ Trúc Cương. Tôi trao đổi với kế toán linh động giải quyết sớm cho tác giả. Sau đấy Trúc Cương nói nhỏ với tôi: Bùi Bình Thi mời cậu đến uống mừng “Tây Nguyên Mùa Cày”. Lúc tôi và Trúc Cương đến nhà Thi ở gần chợ Hàng Da thì thấy Hồng Phi và Vũ Hạnh (Vũ Hạnh là phóng viên báo Nhân dân. Do trùng bút danh với một nhà văn miền Nam, nên sau đó anh đã đổi thành Vũ Hạnh Hiên) đã ngồi đấy. Chị Mỹ, vợ Bùi Bình Thi rất khéo tay, làm nhiều món ăn rất hấp dẫn, Trúc Cương có vẻ rất chủ động, săm sắn. Khi tất cả vào cuộc, Bùi Bình Thi mới cười nói: – Bữa nay là do công của Trúc Cương. Tôi vỡ lẽ. Hóa ra, trông lớ ngớ vậy nhưng Trúc Cương cũng là tay khôn ngoan, láu cá. Anh thúc giục sớm nhuận bút cho Bùi Bình Thi là có ý đồ.

Trúc Cương ít nói. Nhưng khi có nhận xét về ai đó thường rất thâm thuý. Thí dụ khi nói về Phùng Quán, anh đã hơn một lần nói : Phùng Quán là người đã biết triệt để tận dụng sự không may của mình. Hoặc về nhà thơ Nông Quốc Chấn : Với tâm hồn đa cảm, đôn hậu của mình nếu không quá vướng bận vào công việc quản lý hẳn anh sau này đã có thêm nhiều “Dạy vẽ Làng” hay “Bộ đội ông cụ”

Trúc Cương là người thật tốt nhịn. Không chỉ nhường nhịn vợ con mà với cả bè bạn. Nhiều trường hợp nếu vào địa vị người khác, chắc sẽ có to tiếng, va chạm nhưng với Trúc Cương thì không, Trúc Cương và Quang Huy cùng tuổi Bính Tý (1936) lại cùng làm thơ, cùng vào Hội Nhà văn một đợt nên khá thân nhau. Hồi Quang Huy ở Nhà Văn hóa Trung ương thì Trúc Cương ở Nhà xuất bản Văn hóa. Mỗi khi đi làm về sớm, Trúc Cương thường rẽ qua chỗ Quang Huy tán gẫu. Hai người thường xưng hô: “tớ tớ, cậu cậu”; “mày mày tao tao”. Sau này Quang Huy thay Lữ Huy Nguyên lên làm giám đốc Nhà xuất bản Văn hóa, thì Trúc Cương thành cán bộ dưới quyền. Nghĩ chỗ thân tình nên khi gặp nhau, Trúc Cương vẫn hồn nhiên “tao tao, mày mày” với Quang Huy. Cả khi cơ quan đông người. Một lần sau khi làm việc xong với Trúc Cương, Quang Huy đành nói thẳng với bạn: – Cậu với tớ là bạn thân ai cũng rõ. Riêng hai đứa với nhau thì thế nào cũng xong. Nhưng trước cơ quan hay trước mặt khách cậu cần chú  ý, nói năng sao cho tế nhị. Hơi bất ngờ, Trúc Cương mặt ngẩn ra. Rồi không trình bày, không thanh minh anh lẳng lặng đứng lên rời phòng làm việc của giám đốc. Nhưng cũng từ đấy trong ứng xử anh đã dè dặt hơn.

Có lẽ quá mất thời giờ vào rượu chè, Trúc Cương làm thơ ít. Một lần Trúc Cương và Trịnh Thanh Sơn gặp nhau ở phố Huế rủ nhau cùng vào chỗ tôi. Ba thằng trà lá lúc lâu, Sơn nói Cương dạo này có bài thơ nào? Thế là Cương say sưa đọc, từng câu thơ như đã ngấm vào anh:
Em ở rất gần. Vầng trăng lặng lẽ
Cơn gió đi qua, vạt trời hoa lúa.
Hạt mưa đi qua bóng ngọn cây gầy
Trọn vẹn ngày dài mắt mở thơ ngây.
……
Qua mấy chục năm cuộc đời sông rộng
Chảy hết trung du, chảy suốt đồng bằng
Anh bất chợt thấy mình đứng đợi
Cánh buồm thơ đầy gió tháng giêng xuân

…..
Trịnh Thanh Sơn sau phút giây trầm lắng, gật gù : – Thơ ông còn xúc động lắm. Vậy ra rượu chưa uống hết thơ ông.
Bài thơ vừa được Trúc Cương đọc là bài “Vầng trăng lặng lẽ”, sau anh in thành tập lấy tên bài này làm tựa, in tại Nhà xuất bản Văn học. Sách thơ đã in của Trúc Cương cũng không nhiều. Có cuốn nào anh vẫn đem cho tôi. Ngoài Vầng Trăng Lặng lẽ, Trúc Cương có thêm : Thị trấn biên giới cũng in ở nhà xuất bản văn học (1979) và  Cách địa cầu 2 mét ở nhà xuất bản Văn hoá Thông tin. Trúc Cương viết ít nhưng tất cả những bài thơ được anh công bố đều rất ấn tượng, sâu lắng và tinh tế. Trúc Cương có một bài thơ viết về Tuyên Quang, tôi cũng nhớ.
Tuyên có gì đâu sao ta lại nhớ
Con sóng ầm ào, gốc phượng khẳng khiu
Chén rượu đắng, dốc nhà thờ nắng
Trắng bờ lau gió thổi rạp chiều

Tuyên có gì đâu sao ta lại nhớ
Một búp chè thơm, một củ sắn lùi
Một bờ đá phía chân trời chớp giật
Suối bên đèo mưa nắng đầy vơi.

Tuyên có gì đâu sao ta lại nhớ
Ngôi sao xanh im thức ngủ mái rừng
Con hoẵng nhỏ kêu hoài cuối bãi
Tuyên có gì đâu, Tuyên thương nhớ ơi

Không hiểu sao trong các bạn bè tôi lại thường nhớ tới Trúc Cương. Trong tôi luôn hiện về một nhà thơ đôn hậu, tình cảm đầy nhẫn chịu. Và trong cuộc đời anh ít có giây phút thật sung sướng, bay bổng như chữ ký uốn lượn sau tấm bưu ảnh mà anh đã tặng tôi ngày nào? Lúc nào cũng thấy anh lầm lũi, tồi tội. Quần áo chẳng mấy khi được phẳng phiu, sạch sẽ. Tôi không rõ trong ngày cưới, anh ăn vận ra sao. Có com-lê, cà vạt không? Suốt mấy chục năm quen biết, thân thiết, thì chưa một lần tôi thấy anh chững chạc trong bộ đồ nghi thức. Anh ít chú ý đến ăn mặc và có lẽ anh cũng không đủ điều kiện. Có ít tiền nào anh dành cho rượu. Xưa anh mong muốn có tiền để uống rượu mà ít có. Cuối đời, cậu con trai làm ăn khá giả, xây nhà to, thuê người giúp việc chăm sóc bố chu đáo thì Trúc Cương đã yếu quá rồi. Khi những chai rượu ngoại khá đắt tiền với Trúc Cương không thiếu thì anh không uống được nữa, thèm lắm anh chỉ ra quán làm một cốc bia hơi. Nhiều khi không uống hết.

Trúc Cương mất cũng lặng lẽ. Và có lẽ, đến tận ngày anh đi mãi, hẳn khi đó anh mới ăn bận thực sự chỉnh tề?

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here