Họa sĩ Lê Thiết Cương nhớ về người thầy của anh là nhà thơ Đặng Đình Hưng: “Tôi đã quá quen với hình ảnh, ông ngồi yên lặng, nhiều giờ bên chén rượu, ngoài chợ, ở quán hay trong nhà cũng vậy để cảm nhận xung quanh và cảm nhận mình. Những cảm nhận đó được ông viết thành tác phẩm “ Ô mai” dưới dạng nửa thơ, nửa văn xuôi với nhân vật chính “người thể nghiệm”, nhà xuất bản Hội Nhà Văn ấn hành năm 1993. Những lúc ông vào cơn “ thể nghiệm” tôi thường lặng lẽ ra ngoài, làm vài vê thuốc lào cho đỡ rét…”

Thầy tôi và ước muốn làm cục phấn trắng…

LÊ THIẾT CƯƠNG

Hôm đó ông Đặng Đình Hưng nhờ người gọi tôi sang sớm, chỉ độ hơn 6 giờ. Cũng một ngày tháng Chạp thế này. Lạnh. Hà Nội, hồi những năm 80 của thế kỷ trước có vẻ lạnh hơn. Ông bảo chuẩn bị sơn và toan cho ông. Tôi ngồi ngoài bếp pha mầu, lót nền trước, chốc chốc ông lại hỏi vọng ra: xong chưa?

Thỉnh thoảng, từ nước ngoài, Đặng Thái Sơn gửi về biếu bố một thùng “hàng tiếp tế”. Ngoài quần áo, thuốc men, một yến xà phòng bột để dùng dần, bao giờ Sơn cũng kèm thêm vài cuộn toan và mấy chục tuýp sơn dầu Liên Xô. Hoạ phẩm ngoại là một thứ xa xỉ phẩm vào lúc bấy giờ, không phải hoạ sỹ nào cũng có đủ để vẽ. Nhà sưu tầm Hào Hải kể: hai quả tên lửa ở góc trên bên trái của bức tranh Hào nổi tiếng, Dương Bích Liên vẽ bằng mấy tuýp sơn của nhà văn Tô Hoài tặng sau chuyến đi họp Đại hội nhà văn Liên Xô trở về. Tấm toan cỡ độ 50 x 100cm, tôi lót nền mầu ghi lạnh theo ý ông đã xong nhưng khi mang vào đặt trước mặt ông thì tôi có cảm giác là ông lại chưa muốn vẽ ngay. Ông ngồi im lặng bên cạnh cửa sổ, nhìn ra ngoài, tay cầm chén rượu, thỉnh thoảng nhấp chậm chậm ngụm một.

Căn hộ đầu hồi, tầng 2 nhà C4 khu Giảng Võ, từ khi ông dọn đến ở cho tới ngày mất cũng được ngót mười năm. 10 năm chỉ ngồi đúng chỗ đó, không bàn ghế, chiếu trải trên sàn nhà. Xung quanh ngổn ngang các loại chai, vò bằng thuỷ tinh cao, thấp, to, bé, đầy vơi khác nhau nhưng bên trong đều là rượu trắng. Ông là người hài hước, có lần ông nói nửa đùa nửa thật: “nhìn đống chai lọ ngổn ngang này lại nhớ cái hồi đạp xe đèo quốc lủi từ Trúc Sơn ra Hà Nội, giao buôn cho mấy quán quen, lãi cũng vừa đủ uống”. Ông viết, vẽ, uống ở đây, tiếp khách cũng ở đây. Trên manh chiếu nhỏ này, nhờ có ông mà tôi được nhìn, được gặp, được quen với biết bao văn nhân tài tử. Chiếu một bao giờ cũng dành cho các vị trưởng lão: các đại thi sỹ Lê Đạt, Trần Dần, Hoàng Cầm, ít tuổi hơn là Phan Đan, Trần Vũ Mai, các họa sỹ Trần Lưu Hậu, Trọng Kiệm, các nhạc sỹ Huy Du, Trọng Bằng, nhà văn Tô Hoài, nhà phê bình nghệ thuật Thái Bá Vân, dịch giả Dương Tường, nhà báo cựu trào Phấn Đấu, chuyên gia Dịch học Lai Xuân Hợi. Cầm tròi chiếu hai là hoạ sỹ Trịnh Tú, anh là người truyền lệnh của các cụ ra ngoài hành lang cho tôi. Khi thì tôi phải chạy ra chợ mua thêm mấy bìa đậu, chai rượu, mớ hành hoặc vẫy xích lô đưa một cụ nào đó về. Được làm chân phục vụ với tôi là một điều may mắn nhưng cũng có thể đó là sự cố tình sắp xếp của nhà thơ Đặng Đình Hưng. Ông luôn tạo điều kiện cho tôi có cơ hội tiếp xúc với các maitre (thầy), ông bảo họ là những cuốn sách sống và hy vọng tôi sẽ đọc, sẽ học được điều gì đó. Tôi nghĩ là tôi đã học được nhiều ở “ngôi trường” đó dù chỉ là mon men, hóng hớt, nhặt nhạnh chầu rìa, nghe lỏm chứ hiếm khi được ngồi cùng, truyện trò trực tiếp. Ngược lại, sáu năm ở đại học tôi lại chẳng học được gì, dù các thầy vẫn nhiệt tình chỉ bảo.
Tôi đã quá quen với hình ảnh, ông ngồi yên lặng, nhiều giờ bên chén rượu, ngoài chợ, ở quán hay trong nhà cũng vậy để cảm nhận xung quanh và cảm nhận mình. Những cảm nhận đó được ông viết thành tác phẩm “ Ô mai” dưới dạng nửa thơ, nửa văn xuôi với nhân vật chính “người thể nghiệm”, nhà xuất bản Hội Nhà Văn ấn hành năm 1993. Những lúc ông vào cơn “ thể nghiệm” tôi thường lặng lẽ ra ngoài, làm vài vê thuốc lào cho đỡ rét. Nghe tiếng ông gọi, tôi vào chuẩn bị cho ông mầu, bút. Ông bảo bóp cho ông ít mầu ra đĩa. Ông chọn một cái bút, nâng lên, đặt xuống vài lần, chấm vào mầu. Và rất nhanh “vẽ” lên mặt toan mấy chữ, chính xác là hai chữ, đọc thành ba âm tiết: ĐÊM VIRGULE (Đêm dấu phẩy). Thực sự thì đó là một bài thơ, hay đó là một bức tranh vẽ về một bài thơ? Tôi không biết nhưng điều đó cũng chẳng quan trọng gì vì nó chính là bài học đầu tiên ông dậy tôi để khai mở cho tôi về quan niệm tối thiểu trong nghệ thuật mà tôi vẫn đang đi cho đến tận hôm nay.

Khu tập thể – lắp ghép Giảng Võ chỉ dành cho các cán bộ trung cấp. Căn hộ của ông Đặng Đình Hưng được chính phủ phân sau khi Đặng Thái Sơn đoạt giải nhất cuộc thi Chopin lần thứ 10 tại Ba Lan năm 1980. Liền tường là gia đình Nghệ sỹ Nhân Dân Trà Giang và giáo sư Bích Ngọc, Bích Trà (con gái họ) mới ngày nào bé xíu thế mà năm rồi đã tốt nghiệp piano ở London trở về biểu diễn cùng Dàn nhạc Giao hưởng thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian quả là bóng câu qua cửa. Kỹ thuật xây dựng khu nhà này theo lối mới. Không xây mà ghép từng tấm bê tông đúc sẵn lại. Đóng đinh vào tường rất vất vả, loay hoay mãi tôi mới treo được “ Đêm Dấu Phẩy” lên. Ông chưa cho tôi về ngay, giữ lại thưởng cho một chén. Lâu lắm mới gặp bữa nhà không có khách. Ông giảng giải thêm cho tôi nhiều chuyện về con đường tối thiểu.
Ông kể, ngày xưa có một cụ đồ trường làng, cụ luôn treo một thanh gươm trên vách, tượng trưng cho việc chém bớt những chữ thừa, những câu dài dòng trong bài của học trò. Ông kết luận: chữ thừa, hình thừa, mầu thừa, thoại thừa cũng là một loại giặc. Hôm đó gió mùa đông bắc về, càng trưa càng rét, ngoài trời mưa bụi mù mịt. Thấy tôi liếm mép, ông cho tôi tự rót thêm chén đầy nữa. Ông kể tiếp giai thoại thi nhân Vương Bột đời Đường khi chết rồi mà vẫn còn báo mộng cho học trò cắt bớt mấy chữ thừa trong bài phú nổi tiếng : “ Thu thuỷ cộng tràng thiên nhất sắc/ Lạc hà dữ cô lộ tề phi” mới chịu mồ yên mả đẹp.

Cũng như “Bến Lạ” ( Nhà xuất bản Văn Nghệ Tp Hồ Chí Minh- 1991) viết về hành trình kiếm tìm chính mình của người nghệ sỹ. “Ô Mai” viết về những cơn thể nghiệm của tác giả. “ Đêm Dấu Phẩy” cũng chính là chắt lọc từ cuộc sống của ông. Ông ngủ ít và rất khó ngủ. Đầu giường ông luôn có một cái đèn “pin” không dùng pin mà bóp bằng tay, Đặng Thái Sơn mua từ Liên Xô về cho bố, nó là một thứ hàng độc lúc bấy giờ. Những khi tỉnh giấc, ông thường bóp bóp, rọi vào cái đồng hồ nhỏ thường trực luôn ở trong màn để xem giờ. Ngủ, thức, thức, ngủ cứ xen nhau từ tối đến sáng. Đêm nào cũng vậy. Giấc ngủ cứ bị đứt, bị ngắt như những dấu phẩy cắt rời một câu thành nhiều ý nhỏ.

Ông mất tháng 12. 1990. Gần 5 tháng sau tôi mới có triển lãm cá nhân lần đầu, những bức tranh đầu tiên theo quan niệm tối thiểu, mà ông đã chỉ cho tôi. Giá như….nhưng thôi, tôi lại nhớ một bài thơ của ông: “Ước muốn là một cục phấn trắng lau bàn chân không, hơ cái khăn khô”.

Với tôi, ông không mất, thầy Đặng Đình Hưng của tôi không mất, ông chỉ đi đâu đó. “Tôi đi xa ra phố nửa giờ/ Tìm một cái ao ngồi giặt áo cả ngày…”.

Nguồn: VieTimes

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here