Vũ Quần Phương

 

Mười bẩy tuổi, khi còn ngồi trên ghế nhà trường trung học đã có tập thơ gây sửng sốt cho thi đàn, quả là một thần đồng, tám năm cuối đời lại có sức bút đủ làm thành một sự nghiệp riêng, không thua gì cả đời thơ đã trải, Chế Lan Viên là một tài năng thơ lực lưỡng nhất trong các nhà thơ hiện đại.

 

Lượng thơ, gộp trong hai tập đầu của bộ Chế Lan Viên toàn tập (gồm 5 tập), chiếm ngót 1400 trang khổ 13,5 x 20,5,  trong đó Di cảo mới công bố 3 tập ( đã soạn xong tập thứ tư ). Chế Lan Viên có thơ bốn câu và cũng có nhiều bài tới nghìn câu khổ rộng. Tập Những bài thơ đánh giặc ( Thanh Niên 1972 ), 78 trang, mà mới chỉ ba bài. Khối lượng đồ sộ, bao gồm nhiều chặng cảm xúc và nhận thức cuộc sống. Đến nay, sau 17 năm ông xa khuất, đã có độ lùi năm tháng , thời cuộc cũng lắm đổi thay, lắm thử thách còn mất của văn chương, bài giới thiệu này muốn một cái nhìn bao quát cả đời thơ ông: đâu là chất thơ vĩnh cửu ngay trong những bài thơ thời sự, đâu là những khác biệt trên từng chặng trong một Chế Lan Viên thống nhất…
Điêu tàn, 36 bài và sau Điêu tàn, 34 bài nữa, coi chung là những thi phẩm trước cách mạng của ông. Chủ đề Điêu tàn được nhiều người xác định là tiếng than khóc cho một đất nước đã tiêu vong. Đúng thể, nhưng chưa đủ. Bởi ngay trong đề tài Chàm này, mà đề tài Chàm mới chỉ chiếm một phần Điêu tàn, thì cảm hứng thơ Chế Lan Viên đâu chỉ khuôn trong nỗi buồn vong quốc của dân Chàm, đâu chỉ là nỗi nuối tíêc khung cảnh huy hoàng nước non Hời trong dĩ vãng. Ngoài Những cô thôn vàng nhuộm bóng chiều tươi  với Những chiến thuyền nằm mơ trên sông lặng / Bầy voi thiêng trầm mặc dạo bên thànhNhững Chiêm nữ nhẹ nhàng quay lại ấp / Áo hồng nâu phủ phất xoã lời vui… Còn gì nữa chứ. Còn, ấy là:
Sọ dừa ơi hãy nghe ta truyền phán 
Hãy ngả nghiêng lăn lộn, hãy kêu gào
Hãy rít lên những điệu xương vỡ rạn
Hãy buông ra những tiếng máu sôi trào
Còn:
Rồi lấy ra một khớp xương rợn trắng
Nút bao giòng huyết đẫm khí tanh hôi
Tìm những “miếng trần gian” trong tuỷ cạn,
Nhà thơ trẻ lãng mạn Chế Lan Viên muốn gì trong cõi yêu tinh kinh dị u uất ấy?
Hãy về đây, về bên ta mi hỡi
Đem cho ta những phút rỡn kinh hồn

Những phút mộng điên cuồng, mơ dữ dội

 

Ông muốn tìm giải thoát trong cõi yêu ma. Chán sắc màu thật của trần gian nên thích hồn phách say sưa trong giả dối(…) Cho lăn lóc hồn mê trong Ảo Huyễn. Tự tạo ra ảo huyễn. Nước Chàm xưa chỉ là một (trong nhiều) ảo huyễn  được gợi nên từ bóng dáng đổ nát những tháp Chàm ngày đêm in bóng trên nền trời Bình Định, trên không gian tuổi thơ của tác giả. Đây là chỗ giao thoa của hồn thơ Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử. Hàn Mặc Tử ảo huyễn trong cõi điên, xáo trộn yêu ma với Thiên Chúa, với Thánh Thần. Chế Lan Viên tìm vào cõi âm, hồn thơ lảng vảng tìm thi hứng từ những tha ma, huyệt mộ, đầu lâu, xương tàn, máu, não … Không gian là trăng mờ, bóng tối, đêm đen. Nhân vật là Các cô hồn lặng ngắm cõi hư vô. Đến tiếng mõ lốc cốc của trần gian, ông cũng thấy Tựa đầu lâu reo dưới khớp xương tàn Trong thơ cổ điến nhiều nhà thơ cũng đã nói tới cõi âm. Nguyễn Du trong Văn Chiêu hồn cũng đã phục hiện bóng dáng những cô hồn Lôi thôi bồng trẻ dắt già. Nhưng không dựng các chi tiết đặc tả xác chết, hồn ma ghê rợn, tiếng xương kêu, máu thét kinh hoàng. Mạch cảm xúc này cha ông ta ít khi khai thác, nó không có trong truyền thống. Phương Tây thì nhiều, rõ và gần nhất là Beaudelaire. Niềm kinh dị (chữ của Hoài Thanh) do Chế Lan Viên gây nên xuất phát từ đây. Nhưng, theo tôi, sức thu hút của Điêu tàn không chỉ ở kinh dị với ma khóc quỷ hờn, đầu lâu la hét…trong cõi âm mờ tối, mà nhiều hơn lại ở sự mê đắm. Mê đắm vẻ đẹp rất nhiều ánh sáng kỳ ảo của trần gian thanh thiên bạch nhật. Thiên nhiên tươi sáng, son trẻ, nghịch ngợm, đa tình.

 

                      Cảnh xuân:
Hàng dừa cao say xưa ôm bóng ngủ
Vài quả xanh khảm bạc hớ hênh phô
Xoan vươn cành khều mặt trời rực rỡ
Bên bóng râm lơi lả nhẹ nhàng đu
                      Cảnh thu:
Mặt trời nở trong ô cây thếp bạc
Trên ngàn xanh nhí nhảnh ánh vàng lay
Muôn chim non cùng ngây thơ ca hát

Lũ bướm vàng quên lạnh thẩn thơ bay

 

                      Đây cũng là khí quyển quen thuộc của phong trào Thơ Mới. Trong tâm lý tiếp nhận cảnh sắc ấy có lòng yêu đời say đắm, say đắm mà thành lãng mạn mà tạo thần tiên cho cõi trần. Đây lại là chỗ giao thoa của Chế Lan Viên với Xuân Diệu và cả với Thế Lữ ( Thế Lữ tạo thần tiên hơi quá tay nên có hao hụt thi vị trần tục). Hồn người thơ ở đây trong trẻo quá, cách xa lắm với khí đêm u uất cõi ma trong các bài thơ khóc dân Hời. Cảnh xuân: tả cây, tả quả, tả cành, tất cả đều nhân cách hoá, đây say sưa ôm bóng ngủ, kia hớ hênh phô, hoặc khều nghịch ngợm. Tinh, hóm, sống động. Nhưng thần tiên nhất là cái bóng râm, không sống chết, nhưng lại đa tình hơn cả, lơi lả nhẹ nhàng đu. Cảnh thu  có cây, chim non, bướm vàng sinh động nhưng chưa kỳ ảo bằng cái ánh vàng, nó nhí nhảnh lay.  Những nét ảo chấm phá điểm xuyết ấy làm cảnh thực lung linh hơn chính nó. Một chút như vô tình buột ra thế thôi nhưng đấy là dấu hiệu của tài năng, không dễ có. Giai đoạn sau Điêu tàn , bút pháp ảo trần gian trong trẻo này được vận dụng nhiều. Bài thơ Trưa đơn giản  là thành công tiêu biểu cho khuynh hướng này. Những không gian trưa trưa quanh vườn, trưa quanh gốc, trưa lên trời, trưa lạc vào lăng tẩm, trưa bước xuống những sân ga… các trưa điển hình của hiện thực nhưng được thu nhận bằng cái nhìn ảo. Thực ảo lẫn vào nhau, tạo một cảm xúc chập chờn nửa vào cõi lạ nửa trong cõi đời. Câu thơ mê đi làm tỉnh thức  rất nhiều cảm giác, ý thức thành mơ hồ, tài tình lắm:

 

Trưa, theo tàu bước xuống những sân ga
Dựng buồn lên xa gửi đến Muôn Xa
Đây trưa hiện hình trong căn trường nhỏ

Đưa tay thoa những hàng kính vỡ

 

                      Đây là một chặng phát triển cảm xúc Chế Lan Viên sau giai đoạn kinh dị. Đôi lúc ông tạt qua bút pháp ấn tượng, tạo nét siêu thực chừng mực, đủ sức gợi. Ý nghĩa câu thơ lùi lại phía sau nhường cho cảm giác hình thành:

 

Thâm khuê ý thức chong đèn lạnh
Mặt nguyệt tâm tư tròn vẹn gương
Chiếc én thành son chưa đẫy cánh

Nét đau xanh liễu chửa buông tường

 

                      Chế Lan Viên không phát triển bút pháp này. Hướng ấy là sở trường của Nguyễn Xuân Sanh, nhưng bài thơ Lại thấy thời gian này ( viết khoảng 1937-1946) là một bài thành công, cho thấy biên độ cảm hứng của Chế Lan Viên khá rộng.

                      Cách mạng tháng tám thành công, đất nước bước vào chặng lịch sử mới, Chế Lan Viên cũng như hầu hết các nhà thơ lãng mạn của phong trào Thơ Mới cũng vào chặng sáng tác mới: tự nguyện biến thơ mình thành công cụ vận động đồng bào đánh giặc cứu nước. Nhà thơ lãng mạn nổi tiếng trở thành cây bút hiện thực dò tìm những bước đi đầu tiên. Nhiều trồi trụt và ấu trĩ. Nhưng hôm nay, sau hơn nửa thế kỷ với biết bao biến động của đường lối văn nghệ, đọc lại không thể không khâm phục ý chí vì đại nghĩa của lớp nhà thơ “tiền chiến” ấy. Tập thơ bao trùm giai đoạn sáng tác chín năm kháng chiến Gửi các anh là một tập thơ mỏng, ướm thử nhiều thủ pháp, cốt sao tải được hiện thực cuộc sống lẫn ý tưởng tác giả khi ấy. Khó có thể coi bài nào là hoàn chỉnh, nhưng lại hé cho thấy những khuynh hướng mới, sau này sẽ phát triển rõ trong Ánh sáng và Phù sa. Lối viết chính luận tung hoành trong các câu thơ rộng khổ ở các bài Cành phong lan bể, Tàu đến , Tàu đi  đã được báo hiệu từ những thể nghiệm của bài Chào mừng ( viết năm 1950). Cũng như vậy, Đi ra ngoại ô thoát thai từ Trường Sơn. Kết nạp Đảng trên quê mẹ từ Đưa con ra trận. Điều đó chứng tỏ hướng tìm của Chế Lan Viên những năm kháng chiến chống Pháp là có ý nghĩa. Chúng ta hiểu thêm: ngay ở những nhà thơ tài năng, để chín trong một khuynh hướng sáng tác mới cần một lao động thơ bền bỉ hàng thập niên. So với thơ viết trước cách mạng, Gửi các anh ham ôm chứa hiện thực, đôi lúc thơ làm nhiệm vụ ký sự, đôi lúc thơ thuyết minh bình luận sự kiện quá đầy đủ và khô khan, nhưng có một bước phát triển bạn đọc cần ghi nhận là chính từ tập thơ này Chế Lan Viên bộc lộ khuynh hướng nâng cao phẩm chất trí tuệ cho thơ. Khuynh hướng này về sau thành một đặc sắc của Chế Lan Viên. Tư duy sắc sảo, huy động hình ảnh tạo nên những cặp phạm trù, những mạch nghĩ lôgic, đó là những công cụ mới thể hiện cảm hứng người viết và dẫn dụ cảm xúc người đọc. Hình ảnh khi tương phản: Việt Nam những ngày nguyên tử vẫn xông lên hàng đầu với gậy tầm vông,  khi cộng hưởng, trùng điệp: Những thành phố lớn cưu mang trong lòng, những nhà máy lớn / Nhưng lớn lao thay là những người đã thắng được máy móc và để lại tên cho phố phường. Bản thân nó chưa thơ (suy tưởng lấn hình tượng) nhưng nó dẫn đến những nhận thức mới mẻ, bất ngờ.Đến thời  Ánh sáng và phù sa, khi hình tượng thơ hoàn chỉnh, nó thành những câu thơ đúc kết chân lý:

 

Khi ta ở chỉ là nơi đất ở  

Khi ta đi đất đã hoá tâm hồn

 

                      Càng về sau hứng thú khi đọc thơ Chế Lan Viên càng thiên về hứng thú trí tuệ. Và từ trí tuệ mà nảy sinh tình cảm ở một chiều sâu mới. Bài thơ dựng lại con đường Hồ Chí Minh tìm đường cứu nước mang cái tên dài Người đi tìm hình của nước. Bản thân cái tên ấy là một câu thơ hàm súc. Hình tượng thơ nằm trong hình ảnh đi tìm hình của nước, nghĩa là tìm dạng thức tồn tại cho đất nước (Độc lập hay Liên hiệp? Cộng hoà hay Quân chủ?…). Cách nói ấy mang tính trí tuệ và trở thành  tứ của bài thơ. Bài thơ kết thúc khi cái hình nướchiện ra, trong hòn đất Pac Bó được Bác Hồ nâng trên tay ngày trở về:

 

Kìa bóng Bác đang hôn lên hòn đất

Trong màu hồng hình đất nước phôi thai

 

                      Ánh sáng và Phù sa xuất hiện năm 1960, trong mùa chín của các nhà thơ cách mạng đi từ phong trào Thơ Mới lãng mạn với các thi phẩm của Xuân Diệu (Riêng chung)Huy Cận ( Trời mỗi ngày lại sáng) Tế Hanh (Gửi Miền Bắc) Lưu Trọng Lư (Toả sáng đôi bờ)…tạo một không khí sầm uất cho thơ, trong chừng mừng nào đã bộc lộ được mặt mạnh của khuynh hướng mở rộng cánh tay thơ ôm chứa lấy cuộc đời. Phẩm chất trữ tình mới và cả bút pháp thể hiện mới của Ánh sáng và Phù sa như một cú hích cho cả nền thơ Miền Bắc hồi ấy. Nhiều cây bút trẻ bị phong cách Chế Lan Viên thu hút. Từ đó cho đến khi mất, Chế Lan Viên đều đặn cho xuất bản Hoa ngày thường – chim báo bão (1967) Những bài thơ đánh giặc (1972) Đối thoại mới (1973) Hoa trước lăng Người (1977) Hái theo mùa (1977) Hoa trên đá (1984). Các tập thơ vận động trên cùng một trục thi pháp Chế Lan Viên, nhưng mỗi tập là một phát triển dung lượng chất chứa hiện thực: chuyện đánh giặc, chuyện đời thường.

 

                      Thơ đánh giặc của Chế Lan Viên là thơ bình luận, tranh luận về phẩm chất anh hùng của cuộc chiến đấu, về lý tưởng cao cả và đức hy sinh to lớn của dân ta. Có thể nói trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, thơ Chế Lan Viên đã thành chỗ tựa tâm hồn cho người đánh giặc. Còn nhớ, những ngày đầu Miền Bắc chống không lực Hoa Kỳ ngay từ 5-8-1964, tin chiến sự như vang cùng thơ Chế Lan Viên, làm phấn chấn và thôi thúc lòng người. Tên sông tên núi gọi lên khi ấy thấm thía, xao xuyến biết bao nhiêu:

 

Hãy yêu! Hãy yêu! Hãy yêu và bảo vệ
Mây nước, cửa nhà, văn học, ngữ ngôn
Một đảo vắng Hồn Ngư còn chớp bể

Một rặng núi Kỳ Sơn từng lắm lúc mưa nguồn

 

                      Tình cảm nhà thơ cộng hưởng với tình cảm toàn dân yêu đất nước. Suốt mười năm từ 1965 đến 1975, Chế Lan Viên đồng hành cảm xúc mình với cuộc chiến đấu thống nhất đất nước. Thơ ông vào trận, khi hào sảng âm vang như văn Hịch tướng sĩ thời Trần: Tổ Quốc bao giờ đẹp thế này chăng (1965) Con mắt Bạch Đằng, con mắt Đống đa (1966), Suy nghĩ (1966)… Khi bừng bừng căm giận, sôi sục anh hùng ca:

 

Hãy may lấy cờ ta trong giận dữ
Những lá cờ to gấp triệu núi sông ta
Dẫu muốn sống không thể quỳ để sống

Hái hoà bình xin hái giữa phong ba.

 

khi lại mảnh mai thăm thẳm như cái nỗi nhớ mơ hồ một địa danh nhỏ nhoi bên kia vĩ tuyến, cái  thành phố Sông Cầu, :

 

Một trưa bình thường mắt không ngó tới
Một đất bình thường xe ta qua mau
Trả thù ta
Bắt lòng ta nhớ mãi

Sông Cầu ơi, sông Cầu…

 

                      Ngày toàn thắng 30-4-1975, Chế Lan Viên công bố bài thơ dài Ngày vĩ đại, viết 3-5-1975,  in tràn một trang nhật báo khổ to. Giọng thơ ào ạt như thuở nào Đại cáo Bình Ngô trúc chẻ ngói tan, thần tốc thắng giặc, những thương nhớ đau đớn âm thầm nén lại bấy nhiêu năm cắt chia, bom đạn như được ào ra trang giấy cười, khóc, xót thương, hả hê, hào hứng …Vậy mà chưa đã, Núi sông lành chỗ cắt vẫn còn đau, hai tuần sau đó, vẫn thể thơ ấy, một bài dài gần gấp đôi xuất hiện, sâu lắng thâm trầm hơn, cảm nhận trở lại những gì dân ta, cả phía bên này lẫn phía bên kia, đã cắn răng chịu đựng Đau sông nước muôn phương thân vạc thân cò. Dung lượng bài thơ đủ cho tác giả bình luận mọi lĩnh vực. Chỗ tình cảm đằm thắm, có chỗ lại lý sự, tranh luận. Cái thế tranh luận của người chiến thắng, bút pháp tung hứng nhưng cũng rất dễ tự say lời.

 

                      Thơ đời thường, trong đó có thơ tình yêu, ở Chế Lan Viên rất phong phú. Cũng để dễ nói thì chia ra như thế. Thực tế, đánh giặc đã là chuyện đời thường rồi, đề tài nọ vốn lồng vào đề tài kia . Xếp hàng mua gạo, mua vải hẳn phải là chuyện thường ngày, nhưng cũng là chuyện đánh giặc, là tư thế đánh giặc;

 

Một triệu quân giặc rối bời như canh hẹ

Ở đây ta xếp hàng

 

                      Chế Lan Viên nắm bắt rất nhanh những chủ đề thơ của các sự kiện, các hiện tượng, thậm chí của một nét tâm lý thoáng qua. Bài thơ nào cũng như một chiêm nghiệm xử thế, sức khái quát sâu, mà cảm động:

 

Lòng rất là vô lý
Mừng hoa sữa vào thu
Lại tiếc hè qua vội

Chưa kịp hái sen hồ

 

                      Lòng người “tham” là vậy. Ta trải qua mà không để ý. Với Chế Lan Viên, nó đọng lại,  nó khuyên ta được những điều xa hơn, rộng hơn chính nó. Có bài, do kiểu tư duy thơ của Chế làm hiện thực bật ra tình huống thơ. Tiếng chim ở Vĩnh Linh sau ngày Mỹ ngừng bom, ngoại cảnh chỉ có thế, nhưng nội tâm nhà thơ đi qua gian lao của chiến tranh, đã tạo nên tình thế xúc động thơ:

 

Bốn năm đạn lửa chim bay hết
Nay tiếng bom im cánh biếc về
Tiếng hót đầu tiên, ơ lạ lắm!

Cả làng rưng lệ đứng im nghe

 

                      Câu cuối là của lòng nhà thơ tạo thêm cho hiện thực. Chế Lan Viên ngay cả những bài thơ phục vụ kịp thời cũng không có câu thơ non lép. Ông kỹ càng câu chữ. Gần như bài nào cũng có yếu tố sáng tạo. Người ta yêu tứ thơ của ông, và yêu cả ngôn ngữ, đặc biệt âm điệu câu thơ. Tiếng chim cu gù sau ngày đình chiến cũng trùng xương cốt chủ đề với chim biếc Vĩnh Linh, nhưng phập phồng da thịt cuộc sống xa, gần, xưa, nay. Âm điệu ngắn dài đứt nối vắt qua các câu thơ, như liền lại như đứt, mô phỏng tiếng chim cu gáy những trưa quê rất khêu gợi:

 

Hồn đất nước bâng khuâng theo tiếng chim dân dã
Như chửa nghe bao giờ. Mà như đã

Nghe rồi. Tự đâu thời xa xửa xa xưa.

 

                      Hai vế đề tài Hoa ngày thườngchim báo bão trong thơ kháng chiến chống Mỹ và mươi năm sau đó của Chế Lan Viên luôn luôn phát triến song hành. Biên độ cảm xúc rộng, bút pháp biến hoá, có lúc kết hợp cả trào phúng.

Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến luỹ.

 

                      Hình ảnh ấy, trước hết,  hợp với chính Chế Lan Viên. Không chỉ vì thơ ông có mặt kịp thời trong những khoảnh khắc thử thách ngặt nghèo của cuộc chiến mà còn ở tầm vóc và tư thế cảm xúc. Ông là người chủ lực trong cả nền thơ, tạo nên mạch trữ tình lịch sử, trữ tình của những sự kiện lớn. Cảm xúc choán những biên độ rất rộng Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào Cửa Bắc đến Văn Chiêu hồn từng thấm giọt mưa rơi. một đầu là lịch sử, đầu kia đã là thân phận con người. Cả hai hình ảnh đều rất gợi cảm, gợi nghĩ ngợi.  Nhiều nhà nghiên cứu gọi Chế Lan Viên là nhà thơ trí tuệ ( dù ông không thích, nó như anh đeo kính gọng vàng! ) có lẽ là do đặc tính ôm trùm rộng xa và uyên bác này.

 

 

                      Kinh nghiệm một nhà thơ lớn cho ông biết cái cách chuyển thơ trên đại lộ rất dễ thiếu đi sắc hoa hương cỏ của những lối mòn quanh quất, nhỏ mà rất thơ. Hướng Hoa ngày thường luôn được ông để tâm khai thác. Chế Lan Viên tận dụng tứ tuyệt để viết ngay, viết gọn những thoáng gặp thơ hồn nhiên, không để cái thói quen “tư tưởng hoá” kịp ập vào

 

Quên mất mình vừa sáu chục
Mở trang giấy rộng viết dài
Gương nhắc mái đầu chớm bạc

Lại làm có bốn câu thôi

 

                      Ông nhớ căn phòng ở sứ Việt nước người trong mấy đêm tá túc cũng như từng chợt nhớ: nhớ nhà cha mẹ, cảnh trường xưa…Những cái nhớ không đâu, những cái buồn không định… ông đều đánh dấu vào thơ. Có khi nghĩa thơ chưa sâu nhưng nghĩa đời lại nặng, những câu thơ nhỏ cho thấy đời một nhà thơ lớn:

 

Còng lưng tưới nước , vạt rau khô
Bơm hỏng mà đâm khổ cả nhà
Đêm ngủ chỉ lo toàn vật giá

Xa dần truyện ngắn, bớt dần thơ

 

                      Xa dần truyện ngắn là bà Vũ Thị Thường, vợ ông, bớt dần thơ là ông muốn diễu mình. Dọn vào thành phố Hồ Chí Minh, ông không xin nhà, tự bỏ tiền mua một căn nhỏ trong hẻm. Ít lâu sau, bán đi , mua một căn có vườn, tít ngoài Tân Bình. Nhà một tầng, cây ăn quả xung quanh. Ông thích lắm, đặt tên chữ Hán cho sang Viên tĩnh viên. Nhưng đất phèn, cây không lên được. Cái ý định tự trồng lấy rau mà ăn xem ra cũng không dễ. Bài thơ trên viết năm 1985, cuộc sống vật chất toàn dân đều khó. Tôi đến thăm, ông mặc bộ bà ba nâu, đi chân đất, dẫn đi thăm cây, nói về đất phèn và giảng Nam Hoa Kinh. Năm (1986), Khi nhà xuất bản Văn Học phát hành Tuyển tập Thơ Chế Lan Viên 400 trang, ông hào hứng viết thư: thế là mình xây xong mộ cho mình rồi. Bây giờ còn ngày nào, mình nằm gác chân lên cửa sổ nhà mình, muốn viết gì thì viết. Lắng nghe trong câu nói tếu táo ấy, một mong muốn thầm lặng của ông, hình như ông còn nhiều thứ phải đợi xong nghĩa vụ với đời mới viết cho mình. Hôm đọc trên báo bài Cờ lau Đinh Bộ Lĩnh (1988), qua tâm sự ông vua, đã thoáng thấytâm sự  ông nhà thơ:

 

Đã lâu ta không nghe hồn lau gọi nữa
Xa tiếng gió xạc xào ?
Xa mùi bùn, mùi trâu, rơm rạ ?
Chỉ nghe danh vọng ầm ào ? Vinh quang xí xố.
                      Câu cuối cùng ở bài thơ ấy, khi ông vua Đinh kêu lên: Hồn ta ở đâu?. Ta nghe thấy khát khao của nhà thơ Chế:
anh ấy Điêu Tàn, anh ấy Phù Sa
anh ấy đọc hồn trời, hồn đất
câu cuối cùng hỏi đâu hồn ta
(thơ Vũ Quần Phương, trang45,

Vết thời gian, Văn học-1996)

 

                      Trong tập Hoa trên đá (1984), Chế Lan Viên cũng đã quay lại với giọng nhỏ trữ tình riêng tư, như hồi nào ông viết Ánh sáng và Phù sa. Tập trước, 1960, đánh dấu sự chuyển hướng thành công, từ chân trời một người đến chân trời mọi người. Tập sau, một phần tư thế kỷ đi qua, là sự kết tinh một đời thơ, thu ngoại giới vào hồn mình, thành hồn mình. Hoa trên đá là một mốc chuyển đáng lưu ý của Chế Lan Viên. Chủ thể cá nhân bộc lộ khá nhiều mà không cá nhân chủ nghĩa:

 

Đời ngoài tuổi năm mươi
Mong gì hương sắc lạ
Mọc chùm hoa trên đá
Mùa xuân đâu chịu lùi
Nông nỗi cá nhân, mà buồn nữa. Tình thế buồn nhưng người không cam phận.
Chả bề nào khuây được bể đâu
Trừ ra bể sâu hơn bể nữa
Bể gây những cuồng phong bão tố

Cũng để quên mình lỡ đã thẳm sâu

 

Bi kịch nhưng cũng là cái giá phải trả cho sự biết, nhất là để biết mình. Rất nhiều bài thơ như tự vấn trở lại những cái ngỡ như đã biết, thậm chí, đã giảng cho người khác: lẽ nào, chẳng lẽ, ngỡ như…Một nhà thơ nổi tiếng là thông minh, uyên bác và hùng biện như sông Hồng sông Mã, gầm reo trong đạn lửa, lúc cao niên lại muốn im lặng mà lắng nghe tiếng thì thầm của con sông Thương nước mắt sông nhớ thương ai mà nước chảy đôi dòng. Thơ cảm động ở nỗi sâu nặng tình đời, như khi nghe cô gái xênh tiền:

 

Chỉ là nhịp gõ ấy sao mà
Em xoay tà áo thì ta khóc
Khi thoảng ngang lòng tiếng í a
Tâm hồn nhà thơ như yếu đuối hơn, ông nài nĩ với cuộc đòi:
Nghe hết câu chèo đã, được không
Vội gì trăm núi với ngàn sông
Lặng đi một phút cho câu hát

Cùng với mầu mây thấm tận lòng

 

Cũng đề tài chiến tranh, sau rất nhiều bài thơ tung hoành như cáo, như hịch, như anh hùng ca giúp người đứng vững giữa đạn bom mà đánh giặc. Nay đất nước yên hàn, lòng ông lắng lại, cân lại những hy sinh Những giọt lệ khô rồi bây giờ lại nhỏ. Ông sống lại nỗi lòng người vợ đợi chồng: Đêm đối diện với ngọn đèn hạt đỗ. Ông xót xa trong đêm hò dấu nỗi đau từ tạ:
Anh cúi mặt bên đèn khêu lại bấc

Nước mắt nhỏ sau câu hò, em lấy tay che

 

Ông không dấu vị đắng của lòng mình khi trở về quê cũ An Nhơn sau chiến tranh, sau thời chia cắt Chẳng lẽ thăm quê lại hỏi người. Có câu thơ thật thà như câu nói mà trong hồn vía nó có chiêm nghiệm của cả đời người:
Ở đâu đong hạnh phúc chén đầy, đây chỉ chén vơi

Một hạt tấm con no suốt một đời

 

Bao nhiêu nỗi buồn của con người thời thơ tránh né, tránh né để lòng yên mà đánh giặc, Chế Lan Viên tự tin mà nhặt lại. Ngay nỗi buồn của lòng ông, kể cả cái tình thế cùng đường bị thời gian dồn đuổi Anh như ông vua Thục / Bị đưổi khỏi thời gian ông cũng không che dấu. Đó cũng là sự tự tin của cả nền thơ. Nỗi xúc động làm bừng tỉnh giữa cơn say ở làng Hung hay vị cay nhoè mắt khói củi sồi năm sơ tán làng quê ngoài Bắc, cỏ xanh ở Tháp Rùa hay lau trắng nơi biên giới…là những cảm xúc đã nâng thành trí tuệ, một cốt cách cổ điển mới của thơ hiện đại..
               
                Sau khi ông tạ thế, liên tiếp ba tập di cảo được xuất bản (1992, 1993, 1996), bạn đọc sửng sốt và vui mừng: một Chế Lan Viên khác, thực hơn, bạo hơn, gọn hơn, chắc hơn. Do vậy, mới hơn, trẻ hơn và rất lý thú là không hề cắt rời với thi pháp độc đáo Chế Lan Viên. Di cảo là những bài lúc sống, ông chưa đưa in. Chưa đưa in có lẽ vì ngần ngại năng lực tiếp thu của xã hội lúc đó.
Ông quan niệm lại nhiều thứ. Nghệ thuật là ước lệ. Thực quá có là nghệ thuật không. Dễ mất thi vị lắm nếu cứ thẳng thừng gọi đúng tên mọi vật
Để khỏi nhớ ơn, người ta bày ra chữ cám ơn

Cám ơn, một lần, hai lần, thôi thế là rảnh nợ

 

Bạo để được thực, nhưng bạo cũng lắm cái phiền. Thực ngay trong sự nhìn lại mình, vẽ ra chính mặt mình có khi lại bị chê là giả, vì người đời đã quen khuôn mặt giả mất rồi. Chế Lan Viên viết như bổ xung, như đính chính những điều đã viết. Nhiều cách nghĩ ta thấy lạ. Lạ với ông. Lạ cả với nền thơ. Nghĩ thế nào về đời, về thơ mà dẫn đến cách đánh giá chính mình như thế này:
 Ôi! Con đường không ra đường của kẻ tìm thơ
Cái thơ không ra thơ của kẻ tìm đường
Ông như tách khỏi mình mà khảo sát chính mình, ở cái chỗ người ta tưởng ông đắc ý lại là chỗ ông đã xót thương :
Khi tôi cưỡi trên mây
Thì máu người rên trên đất
Mẹ hỏi tôi
Con lên cao mà làm chi
Mẹ ở dưới này cơ cực

Về đi!

 

Có người nghĩ Di cảo là thơ sám hối của Chế Lan Viên. Tôi không thấy thế. Di cảo chỉ là sự bổ xung. Chỉ nói nốt những điều trước kia tự ông dừng lại. Dừng lại không nói, chứ không phải không có nó trong lòng. Di cảo đi xa hơn nhưng vẫn trong hướng tìm của nhà thơ. Ông từng có bài thơ nói người tù Côn Đảo ban ngày trần mình ra chịu đòn thù đánh vào hồn vào xác, nhưng đêm về thì lấy trăng sao, hương gió mà nạp năng lượng cho trận chiến ngày mai. Bây giờ thấy ông còn có thêm đoạn ba này: là nói thế thôi, chứ đêm kẻ thù cũng chẳng để anh yên, cái cuộc đời ở đây phút giây nào chẳng phải căng ra mà chịu trận. Chế Lan Viên ở giai đoạn này, gắng nói gọn, nói hết những điều ông đã thấy, đã nghĩ, đã ngập ngừng. Quen tư duy bằng hình tượng, mọi điều nghĩ đã thành thơ phác thảo. Lúc này ông tước mọi uốn éo tài hoa mà thơ vốn có để nói bộp vào thực chất. Bài thơ ngắn đi, nhưng nghĩ ngợi nhiều, chìm sâu vào chiêm nghiệm.

 

Chiêm nghiệm cái đời người.
Chiêm nghiệm thơ.
Chiêm nghiệm xã hội, chính trị, vua quan, các thứ chủ nghĩa…

Thi pháp Di Cảo hiện đại hơn chính vì nó trình bày chất thơ để mộc từ trong lõi. Ông nói: các người đẹp, các vĩ nhân, các thi sĩ thiên tài thì tât cả đều có con nhặng xanh đón đợi. Ngay khi anh đang thơm tho với tuổi tên danh vọng, con nhặng xanh đã nhận ra cái mùi chung cục của anh rồi. Tốt cho anh là anh cũng phải nhìn ra nó sớm. Không phải chỉ tới những ngày trọng bệnh , mà thỉnh thoàng trong đời, ông lại ngẫm nghĩ về sự sống, về cái đời người:

 

Ừ anh là sông trôi, là hạt móc
Là tiếng khóc thất thanh. Nhưng anh lại
Là người. Việc gì phải tủi .
                Không tủi mà còn thích thú nữa. Nhìn lại, có lúc ông tự trách:
Được làm người khoái thế
Vậy mà anh để hồn buồn và trán luôn cau.  

Ông đi thăm lò hoả táng, quan sát nó vận hành. Nghĩ đến chung cục đời người thấy nó ghê ghê. Nhưng ngẫm lại, đó cũng là công việc của đời thường, chuyên cần nhịp nhàng:

 

Sáng đưa xác vào, trưa lấy xương ra
Đều đặn như bánh vào lò
Mỗi ngày hai suất  
Việc phải đến thì nó đến. Ông đã từng băn khuăn
Ta đã nghĩ ra cái đẻ không đau 
Nhưng cái chết không đau thì chưa nghĩ tới.

Rồi lại tự nhủ: mà nghĩ cũng chả để làm gì. Nào triết nào văn, nghe mãi nhức đầu. Trước cái cuộc hành trình nhẩn nha mà rất gấp của đời ấy, tốt nhất:

 

Ta đạp lên siêu hình và bớt nghĩ về ta
Thế là yên chuyện

Căng mình chống chọi với trời đông, ngạo nghễ như cây thông cũng chỉ là một cách mà cứ mềm mại buông mình xào xạc với gió thu như cây lau lại là một cách khác, không phải không hay. Ông lại nói, như một đấu tranh giai cấp tính: lên voi thì xuống chó, nhưng lên mới đến chó thì xuống đến đâu. Kiểu lập tứ ấy giống như một lối chơi tu từ, nhưng ngẫm kĩ nó là chuyện đời bây giờ đấy chứ. Chua chát! Ừ thì chua chát, đời mà, mấy khi ngọt. Người ta nói dối nhiều nên vu cho chú Cuội tội nói dối mà phê phán để trốn được tội mình đi.

 

Nói dối gì, Cuội thật biết bao nhiêu
Thế hệ nào đến cũng gặp mày nguyên tại chỗ
Chỉ kẻ nhìn lên trăng thì nói dối đủ điều

Lúc là chú bé con , hét một tiếng trong Văn Miếu, nghe tiếng vang mà sợ, chạy. Lớn lên, nói trên Đài, hét trong sách lại thích thú chờ tiếng vang dội lại, có khi còn chạy đuổi theo. Nay cuối đời thèm yên tĩnh, nhìn xuống huyệt mình lại thấy có tiếng vang(!). Chế Lan Viên ưa nghĩ ngợi, thích phát hiện những ý tưởng thâm trầm ở những sự việc đã quá quen mòn, không ai còn để ý. Nhìn cái lá sen ngoài hồ lật theo chiếu gió, liên hệ với tâm trạng mình, ông cho nó một ý nghĩa triết học:

 

Phía bên này lá sen là cuộc đời quá cũ
Danh vọng, giấy tờ, bàn tủ
Hoan hô và chửi rủa
Thế mà lật lá sen hồ, bỗng chốc phía bên kia
Bỗng chốc là mùi hương ở bên kia lá
Là ánh trăng ở trong tiếng gió
Là thì thầm ánh sao khuya
Trong cỏ…
Gọi anh đi
Ông tự hỏi: ông đã viết câu thơ cổ vũ hai nghìn người đêm ấy ra trận, chỉ ba mươi người về:
Một trong ba mươi người kia ở mặt trận về sau mười năm
Ngồi quán bên đường nuôi đàn con nhỏ
Quán treo huân chương đầy, mọi cỡ
Chả huân chương nào nuôi được người lính cũ!
Người lính cần một câu thơ giải đáp về đời
Tôi ú ớ
Người ấy nhắc những câu thơ tôi làm người ấy xung phong
Mà tôi xấu hổ

Con người thông minh và giàu lãng mạn, thuở đầu đời phóng ra xa tới siêu thực, cuối đời rút vào cốt lõi hiện thực, gạt đi mọi trang trí để lần ra thực chất đời người.

 

Thực chất cái goi là sự “bất tử”:
Có nhà thơ để lại bộ lông vằn tên tuổi
Các thế hệ sau đến độn vào đấy rơm và danh vọng
Thậm chí thêm cho con vật chết khô
Cả một tiếng gầm.
Thực chất cái chết, nó đã alô cho ông rồi, sỗ sàng, thẳng thừng. Thì nó sợ ai:
A lô! Nói gì nói nhanh lên
(…) Và nhìn gì thì nhìn đi
Không ai bịt mắt
Mà cũng đừng nhắm mắt
Nói lên vắn tắt

Rồi đi

 

Nhưng thực chất thơ. Ông nói tới đủ điều, ví với nhiều công việc. Mà vẫn như chưa vào thực chất thơ. Ông là nhà thơ nghiền ngẫm về chuyện làm thơ nhiều nhất. Những bài nói về nghề bằng văn xuôi, những chương nghĩ về thơ bằng thơ sâu sắc, tài tình. Giờ đây, thời gian kíp lắm rồi, ông vẫn lật đi lật lại, mê mải nói thêm. Ông so thi sĩ với hòn đá tảng, thơ nói ra (ở người) và thơ nén vào thành lửa (ở đá), cái nào hơn? Ông nhận ra cái không hoàn toàn mới là cái còn tiến hoá. Ông chấp nhận nghich cảnh: nụ hoa hồng vừa nhú tươi non trên cành ông khô nhựa. Ông biết quy luật của nghề:
Ta là ta mà luôn luôn bối rối
Tìm lại ta
Đi tám cõi mười phương rồi mới tìm ra
Nó ở trong nhà
Hơn bảy trăm bài thơ Di cảo là một cách dùng quy luật nghề để vượt lên nghịch cảnh. Ông đã thắng. Chỉ riêng với Di cảo thôi đủ tạo dựng sự nghiệp một nhà thơ lớn.
Hà Nội 5-5-2006

 

 

Nguồn: HNV

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here